Tìm kiếm:

 
Reply to this topicStart new topic
> Những giấc mơ biên thùy
blacknessking
bài viết 03 May 12 05:49
    Gửi vào: #1
Ông Trùm Thành viên thứ: 440614 Tiền mặt: 373675910
Group Icon Tham gia: 17-January 11 Được cám ơn: 261
Nhóm: Moderator Bài viết: 38699 Y!M : hat with me
Trung úy Thanh vừa chợp mắt thì Nghĩa đến. Không sợ hãi như lần trước, bởi sau những ngày suy nghĩ, cân đong đo đếm mọi việc anh khẳng định Nghĩa không hề đáng sợ nên tỏ ra tự nhiên. Và cũng bởi câu chuyện của Nghĩa hấp dẫn Thanh. Cho dù lúc này, sau gần một tháng cùng anh em đào lên rồi lấp xuống xung quanh nhà máy xay lúa, sân phơi lúa, đến bồn chứa trấu, đập luôn cả nền nhà máy bằng bê-tông dày bốn mươi xăng-ti-mét của chú Thạch Nhol vẫn chưa gặp hài cốt cần tìm, cơ thể rã rời, các thớ thịt như bị xẻ ra từng miếng. Anh cũng thừa hiểu, khi niềm tin lụi tàn sẽ khiến con người ta trở nên chán chường, tinh thần kiệt quệ.

Hôm nay đã hai mươi ngày, có thể ngày mai hai mốt là tổ của anh đã lật ngược cả công đất chứ đâu phải ít ỏi gì. Chỉ còn khoảnh đất cỡ chiếc đệm chỗ cái cối gạo là xong. Hy vọng mấy ảnh nằm ở đó. Cho dù quá mong manh vẫn nuôi hy vọng. Cho dù một ngàn mét vuông chỉ đổi lấy mười mét vuông cuối cùng! Anh hy vọng thẻo đất còn lại đó sẽ đổi từ màu đen sình lầy sang màu xám tro, rất tơi xốp. Ở đó còn một tấm vải dù đã mục nát, một lọ Pinnicelin hay một chiếc nút áo, một dây thắt lưng cũng được. Anh đặt ra nhiều hy vọng để tạo dựng niềm tin cho chính mình và cho cả đồng đội.

Nghĩa ngồi trên vạt tre, ngay vị trí cũ, gương mặt trông tươi tắn hơn hôm rồi. Thanh rót đưa Nghĩa ly trà, nói:

- Lần trước chưa nghe hết câu chuyện của anh, uổng quá!

- Thì bây giờ tôi kể tiếp cho đồng chí nghe.

Nghĩa uống ực hết ly trà rồi chậm rãi:

- Lần trước tôi kể đến đâu rồi nhỉ? À, đúng rồi. Chúng bố trí hai trung đoàn bộ binh thành ba hàng, theo đội hình vòng cung tiến vào. Đồng thời, cho pháo tầm xa nã thẳng vào núi. Quãng từ quốc lộ đến chân núi cây cối thưa thớt, chủ yếu là cỏ dại nên bọn chúng có vẻ cảnh giác, cứ thận trọng len lỏi tiến lên từng chút một. Vả lại, chúng cũng sợ ta gài mìn như mấy lần trước đã làm cho chúng tiêu hao khá nhiều sinh lực mà kế hoạch đánh đấm chẳng ra trò trống gì.

Phần ta thì chuẩn bị sẵn phương án chiến đấu nên chỉ chờ đến giờ “G”, khi đội hình dẫn đầu của chúng tiến vào gần chân núi. Vừa kịp nhìn rõ mấy cái đầu của chúng lố nhố trên tầng ngọn cỏ thì có lệnh “Nổ súng!”. Lệnh vừa ban thì một loạt mìn nổ làm rung chuyển cả vùng đất ven chân núi, đất đá văng tung tóe, khói bụi bốc lên mù mịt. Kèm theo đó là hàng loạt tiếng súng các loại từ trong núi bay ra dội vào đội hình của địch.

Bị bất ngờ, bọn chúng chạy dáo dác, đè đạp lên nhau té nhào. Từ trên cao nhìn xuống chúng như lũ kiến vừa bị mất mồi lại mất luôn cả tổ. Tôi nghe rõ cả tiếng chúng quát tháo ầm ĩ, chửi nhau thậm tệ lẫn trong tiếng súng liên hồi. Cùng lúc đó, chiếc VO-10 quần lượn trên không réo gọi máy bay ném bom tới... Tiếng động cơ ầm ầm và tiếng bom nổ trùm lên cả tiếng súng bộ binh.

Thương ngọn Sam-ki-ri Mil-chi nào tội tình gì mà cứ rung lên từng đợt sau tiếng bom nổ, đá núi có giận hờn ai mà xé ra từng mảnh nhỏ, cây cối nào có lỗi lầm mà ngọn lìa khỏi thân! Mặc kệ. Ta vẫn kiên cường bám trụ trận địa, vẫn kiên quyết không cho chúng chiếm được ngọn núi… Sau ba đợt ném bom, chúng kéo về hướng Kam-pông-Chnăng, quay một vòng rồi xẹt qua ngọn núi thả bom lần cuối trước khi rút quân. “Ầm… am… m…”. “Phựt!”. Tôi nghe tiếng nổ rất gần rồi không còn nghe gì nữa. Đầu tôi váng vất, quay cuồng. Toàn thân tê dại… Mềm nhũn… Tan ra…

Tôi mơ màng thấy tiểu đội trưởng Hân xé ra-gô băng đầu tôi. Chiến sĩ Chiến nhìn tôi, cắn chặt môi rướm máu. Bỗng, Chiến đứng phắt dậy, chộp khẩu súng của tôi vọt lên nấp sau mỏm đá. “Pằng… Pằng…”. Chân Chiến rung lên, gối tì lên bệ đá, em giương súng bắn liền ba phát. Rồi em gục xuống. Một dòng máu đỏ tươi rỉ ra từ mang tai, chảy thành dòng xuống ngực Chiến. Thân Chiến vắt lên mỏm đá, tay vẫn còn nắm chặt khẩu AK…

Thương quá Chiến ơi! Thương bản tính hiền lành, chân chất, thiệt thà của con người miền biển Cà Mau quê em. Thương nét chữ lớp ba ngoằn ngoèo em viết thư gởi về cho ba má. Thương tuổi mười bảy con trai chưa một lần nếm trải vị ngọt ngào hay đắng chát của tình yêu đầu đời. Thương ba tháng tuổi quân ngắn ngủi. Ôi! Thằng út của trung đội, quãng đời em từ nay mãi nguyên vẹn, tinh khôi. Tôi đã nói với Chiến như vậy khi bước tới đỡ Chiến dậy. Chúng tôi dìu nhau ra ngã ba sông Sà-kai, đi phía sau là đồng đội.

Thanh ngồi lặng yên. Không biết tự bao giờ, anh khóc. Điều này trái ngược với bản tính của anh. Anh hình dung những “con ma” gầm rú đang bốc cháy trên bầu trời, những thằng lính Mỹ – ngụy nằm bất động trên lớp cỏ khô, trên các thân cây vừa bị pháo chặt gãy. Và cái gộp đá phía tây núi Sam-ki-ri Mil-chi nữa, nó đang đổi màu vì thấm máu của Nghĩa và Chiến. Thanh thấy đầu đau rưng rức như chính mình vừa bị thương và máu đang chảy tràn ra khỏi cơ thể. Anh cũng thấy mình trôi bồng bềnh từ núi Sam-ki-ri Mil-chi về phía ngã ba sông Sà-kai….

“Anh Thanh!… Anh Thanh!…”.

Thanh bật ngồi dậy, nhìn quanh ngơ ngác. Phía đông, trời hưng hửng đỏ, chim kêu ríu rít trên cây thốt nốt trước cửa báo hiệu một ngày mới đến rồi. Anh lắc lắc đầu, nhấp nháy mắt cho tỉnh ngủ. Chiến sĩ Bình sờ trán anh, giọng lo lắng: “Sao anh lạnh ngắt vậy? Sốt hả?”. “Đâu có”. Thanh đáp nhát gừng. “Hồi nãy anh chiêm bao thấy gì cái gì mà la dữ quá, em kêu năm lần bảy lượt anh mới thức!”. Thanh không trả lời, thở dài thườn thượt. Anh định kể cho Bình nghe giấc mơ vừa rồi nhưng nghĩ thế nào anh lại chui ra khỏi mùng, bước xuống đi ra phía sau hè nhà chú Thạch Nhol. Bình bước lên vạt tre tháo dây cuốn mùng xếp lại. Cái vạt tre yếu ớt oằn xuống kêu răng rắc.

Vẫn như mọi khi, Thanh đốt cây nhang, chắp tay van vái rồi cắm lên phần đất chuẩn bị đào. Leng cuốc chiều qua đã được mài lại và tra cán mới. Các chiến sĩ lấy một khúc cây dài và mấy sợi dây thừng để khiêng cái cối gạo ra chỗ khác. Công tác chuẩn bị xong, cả tổ ngồi đợi khi nào nhang cháy hết hai phần ba sẽ bắt tay vào làm. Thanh vừa rót đầy hai ly trà đặt cạnh nén nhang vừa thì thầm: “Anh Nghĩa với Chiến uống nước đi, phù hộ cho anh em tôi hôm nay tìm được hai anh. Anh đã hứa với tôi, phải giữ lời đó nghen”. Thanh quay lại thấy mọi người đang chăm chú nhìn mình, anh cười hỏi:

- Bộ lạ lắm hả?

Giọng thằng Dũng run run:

- Anh… vừa nói Nghĩa với Chiến, là ai vậy?

Thanh giật bắn người:

- Ủa, có nói hả?

- Anh sao vậy? - giọng Dũng run run.

Thanh thở dài:

- Mấy bữa trước anh ngủ mơ thấy chuyện lạ lắm. Tính kể cho mấy đứa nghe sợ mấy đứa không dám ở đây nữa, nên thôi…

Đó là đêm đầu tiên tổ công tác của Thanh dọn về ở tạm nhà chú Thạch Nhol…

*

* *

Thanh giật mình quay lại vì có tiếng hắng giọng phía sau. Một thanh niên trạc tuổi Thanh đang khập khiểng đi tới. Anh ta mặc bộ quân phục bê bết sình đất, quần xắn ống thấp ống cao, trên đầu băng ra-gô kéo vòng xuống cằm để lộ gương mặt xương xẩu hốc hác, tấm vải dù choàng hờ hững trên vai bay phất phơ. Thanh há hốc miệng, mắt vo tròn dấu hỏi, chân lùi mấy bước. Thanh cố moi óc tìm xem mình đã gặp người này ở đâu chưa. Chưa? Khẳng định chưa. Trước đây và từ khi đến đây đóng quân vẫn chưa hề gặp. Nhưng vùng này chả có đơn vị nào đóng quân thì lấy đâu ra “ông nội” này?

Khi chỉ còn cách Thanh chừng năm bước chân, anh ta dừng lại nhoẻn miệng cười, mắt long lanh ươn ướt. Bỗng một cơn gió vụt qua, rất nhanh và mạnh. Rồi tan đi, đọng lại trong Thanh một cảm giác lành lạnh chạy dọc sống lưng. Thanh rùng mình chống đỡ. Anh ta giơ hai tay định ôm chầm lấy Thanh, kiểu như người thân xa cách lâu ngày giờ mới có dịp gặp lại.

- Đồng chí…!

- Khoan.

Thanh vội ngăn lại. Một bên miếng băng trắng trên đầu anh ta đã ngã sang màu đen sẫm giống như máu khô lâu ngày.

- Anh… Anh… biết… tôi hả? – Thanh hỏi như con nít tập nói.

- Sao lại không? Chúng ta là đồng chí đồng đội mà – Anh ta vừa trả lời vừa tháo tấm vải dù trên vai xuống giũ phành phạch, sau đó xếp làm tư để lên tấm vạt tre.

- Vậy, anh ở đơn vị nào?

- Tôi ở xê sáu – dê hai – đoàn 9904 – Tỉnh K..

- Đoàn 9904? Ủa, đóng quân ở đâu sao tôi không biết?

- Giải tán để sát nhập với các đơn vị khác lúc đồng chí chưa nhập ngũ lận. Hồi đó, đơn vị tôi đóng quân ở sườn núi Sam-ki-ri Mil-chi. Đó, cái ngọn núi mờ mờ, nhấp nhô sau lưng đồng chí đó. Đồng chí hỏi tôi làm gì hả? Tôi giữ chức trung đội trưởng, bộ binh chứ không phải hỏa lực hỏa liếc gì đâu. Nhưng trung đội tôi hễ ra quân là chiến thắng, đánh là tiêu diệt. Tôi không nhớ chính xác nhưng cũng phải hơn chục lần được tỉnh biểu dương đó nghen.

Anh ta nói chân thành và có vẻ tự hào lắm. Bởi vậy, Thanh trấn tĩnh và bị cuốn vào câu chuyện của anh ta, như thể chính mình là một thành viên trong trung đội ấy có quyền được hưởng ít nhiều niềm tự hào kia. Song, Thanh cảm thấy hình như giữa Thanh và anh ta có một khoảng cách, tuy mơ hồ. Thanh mời anh ta và cùng ngồi lên tấm vạt tre, hỏi gọn lỏn:

- Anh tên gì?

- Nghĩa. Nguyễn Minh Nghĩa. Minh là minh mẫn, còn Nghĩa là nghĩa nhân ấy mà. Lúc sanh tôi ra, tía má tôi đặt như vậy.

- Đơn vị giải tán rồi, giờ anh làm gì? Ở đâu?

- Tôi chưa có việc làm. Tôi vẫn ở nhà máy của chú Thạch Nhol. Chỗ ngã ba sông Sà-kai đó.

- Bên Việt Nam anh không có nhà hả?

- Có chứ. Nhà tôi ở Gò Quao, cặp sông Cái Lớn, chỗ đầu kênh Vĩnh Phước. Đồng chí biết chỗ đó không? – Người thanh niên tên Nghĩa thở dài, mắt nhìn xa xăm, giọng thoảng nhẹ mơn man tựa gió chiều – Tôi rất muốn về nhà nhưng không ai rước về cả. Nói thiệt, lúc tôi đi gia đình, rồi bạn bè, bà con làng xóm đưa rình rang lắm. Mấy chục năm rồi nhớ tía má, nhớ các em mà không biết đường về. Hồi qua đây đi ban đêm, hành quân ngoằn ngoèo vô tuốt trong này. Giờ… Anh em tôi chờ các đồng chí lâu lắm rồi. Đồng chí cho anh em tôi về với nghen?!

Một ý nghĩ vụt qua trong đầu, Thanh nhắm mắt cố xua nó đi nhưng càng lúc nó càng rõ ràng hơn. Thanh cảm thấy sợ. Cái nhà máy xay lúa của chú Thạch Nhol mà Nghĩa nói ngày nào tổ của Thanh không tới, hai mươi ngày liên tiếp rồi có thấy Nghĩa đâu. Chí ít cũng một lần gặp chứ? Mấy chục năm xa nhà, muốn về sao lại không được? Không biết đường à? Kỳ cục vậy? Không biết thì hỏi.

Bây giờ đường sá đi lại thông thoáng, dễ dàng, có phải cách trở như trước đâu. Cứ tới cửa khẩu biên giới trình bày trường hợp, hoàn cảnh của mình với mấy anh biên phòng rồi về, hoặc là tạm thời ở lại đó sẽ có người đến đón. Hay là Nghĩa bị chú Nhol bắt nhốt lại đâu đó trong nhà mà anh em Thanh không biết? Mấy bữa nay đọc báo thấy có người đã từng tham gia kháng chiến dính đạn Mỹ – ngụy, tâm thầm bấn loạn, thần sắc thay đổi, hành động vô thức, bị gia đình khóa xích chân không cho ra khỏi nhà vì sợ quậy phá hàng xóm.

Tội nghiệp quá! Rồi có trường hợp anh thương binh nhiễm chất độc da cam sanh mấy đứa con đều bị mất trí nhớ, chúng đi lang thang chọc phá, cười nói ngây ngô, đành cắn răng đóng khung củi nhốt con mình vô đó. Xót xa quá!

Thanh quan sát Nghĩa rồi khẽ lắc đầu. Chú Nhol tốt lắm, không hề làm như vậy đâu. Lúc hay tin đơn vị Thanh sang đây tìm kiếm, cất bốc và hồi hương hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh qua các thời kỳ, chú đã đạp xe gần chục cây số đến nơi đóng quân để báo tin.

Chú kể rằng, thời Lon-non gia đình chú nằm trong sự kềm kẹp, vây hãm của chúng ở tận Sam-pây-pul, sau khi bộ đội Việt Nam đập tan hệ thống cai trị tàn bạo của Pôn-pốt Iêng-sa-ri, giải phóng đất nước thì chú chuyển về đây. Không phải bỏ phum sóc mà vì ở đó đất đai cằn cỗi, ruộng nương thất bát triền miên nên cả nhà bồng bế nhau kéo về đây lập nghiệp.

Được cái, vùng Sà-kai này đất trũng màu mỡ, chỉ qua mấy vụ lúa tươi tốt hẳn lên. Rồi chú xây nhà định cư luôn. Bốn năm trước chú mua lại cái nhà máy xay lúa của Tùa Hảo – một người Hoa sắp chuyển gia đình về Nam Vang sinh sống. Tùa Hảo cũng nói với chú là hồi năm bảy hai bảy ba gì đó, chỗ nhà máy là một bãi bồi ngay ngã ba sông đầy cây dại, người ta có chôn hai anh bộ đội Việt Nam hy sinh.

Nhưng gần hai chục năm sau địa hình thay đổi, dấu tích mồ mả chẳng còn, Tùa Hảo mới xây cái nhà máy. Hàng ngày, Tùa Hảo đều đốt nhang khấn vái hương hồn hai liệt sĩ phù hộ độ trì làm ăn phát đạt, mua may bán đắt. Chả ai biết hai liệt sĩ kia có phù hộ hay không mà từ khi có nhà máy, Tùa Hảo giàu lên ngó thấy. Độ bốn giờ sáng đã nghe tiếng máy chạy sình sịch, tiếng bánh lăn ken két, tiếng lao xao của lúa trên sàn…, dưới sông, xuồng ghe ngược xuôi hối hả, tấp nập cập bến. Mãi đến chín mười giờ tối mới tan, nhưng lúa vẫn còn chất đầy một góc nhà để hôm sau xay tiếp.

Thấy Tùa Hảo làm ăn được, chú Thạch Nhol cũng… phát thèm, đến nỗi đêm nằm ngủ chú còn mơ thấy mình đứng bên giần sàn điều chỉnh cần thông lúa. Khi Tùa Hảo gợi ý bán, chú mua ngay. Theo cách làm của người chủ trước, hàng ngày chú vẫn đốt nhang van vái hương hồn hai liệt sĩ phù hộ. Thời gian đầu, chú khá vất vả vì chưa quen, trong khi bà con chở lúa đến xay quá nhiều, chú phải mướn thêm cả chục nhân công.

Công cuộc làm ăn của chú từ đó khá thuận lợi. Và chú bắt đầu nới rộng ra mỗi bên ba mét để có chỗ chứa lúa, chứa trấu. Có một điều lạ là kể từ đó, số người đến xay lúa ngày càng vắng, số lúa xay cũng ít dần đi. Nếu trước đây, trung bình mỗi ngày chú xay trên một ngàn ký thì nay chưa đầy một trăm ký. Lắm lúc, cả ngày không có ai đến xay lúa cả. Chú vội vội vàng vàng làm tiệc cúng van vái thổ thần thổ địa bốn phương tám hướng, tổ tiên ông bà, các anh hùng liệt sĩ, những người quá cố, những kẻ chết trẻ trôi sông lạc chợ đầu đường cuối phố không mồ không mả… cũng chả ăn nhằm gì. Buồn! Chú bỏ cái nhà máy cho bụi bám nhện giăng, tập trung vào trồng lúa nước như trước.

Đội trưởng Phấn đã cử Thanh cùng bốn chiến sĩ theo chú Thạch Nhol đến tận nơi xem xét. Đó là một nhà máy xay lúa cất ngay ngã ba sông, cột xi-măng, mái lợp bằng lá dừa nước dột nát; hai phần ba nền nhà trên bờ đổ bê tông, một phần ba còn lại gie ra sông, kiểu nhà sàn, lót ván. Phần nới rộng hai bên cũng vậy. Trong nhà, mọi thứ ngổn ngang, bừa bãi; một số sắt xích, bánh lăn… đã hoen rỉ vì mưa nắng thời gian. Sau khi quan sát xong, Thanh lấy giấy vẽ sơ lược vị trí rồi cùng anh em quay về báo cáo đội trưởng Phấn.

Cùng thời gian này, Đội trưởng Phấn ngược đường lên Nam Vang tìm Tùa Hảo theo địa chỉ của chú Thạch Nhol. Tùa Hảo bảo nếu muốn biết vị trí chính xác thì hỏi ông Chao Ót, vì chính ông này đã chứng kiến và tự tay trồng hai cây thốt nốt trước mộ. Vậy ông Chao Ót ở đâu? Phải thẳng đường lên Xiêm-riệp khoảng ba mươi cây số nữa, hỏi thăm chùa Stung-hau. Từ chùa này quẹo vào con đường đất trăm mét hỏi già Chao Ót, ai cũng biết. Đội trưởng Phấn lại lên đường – một con đường lâu ngày không tu sửa đầy ổ gà làm xe nẩy ngược từng chập. Loay hoay mất mấy giờ cũng tìm được chùa Stung-hau, tiếc thay, sư cả chùa lắc đầu nói đã tổ chức hỏa thiêu già Chao Ót tuần trước! Vậy là công dã tràng.

“Mỗi một thông tin của người dân cung cấp đều có giá trị như nhau!”. Từ lúc về nhận nhiệm vụ ở đội Thanh đã thấm nhuần phương châm đó, điều cốt lõi là có nhiệt tình, có cố gắng, có xây dựng niềm tin để đào tìm hài cốt hay không. Vì vậy, cho dù hy vọng mang manh cuối cùng đã đứt gãy nhưng vẫn phải đào tìm, biết đâu… Mấy lần trước cũng vậy thôi! Những ngày đầu, Đội trưởng Phấn cùng anh em gặp chú Thạch Nhol thương lượng về việc bồi thường cây trái, chú cười xòa, nói chậm rãi như người ta nhặt lúa: “Có bao nhiêu đâu. Các chú cứ đào. Cầu mong các chú tìm gặp”. Thế là ổn.

Việc đầu tiên phải phát hoang cỏ dại từ mép sông kéo dài lên khoảng mười mét, sau đó dùng leng đào hố song song với hiên nhà máy. Mỗi hố rộng bảy, tám tấc. Hố cách hố cũng bằng từng ấy. Đào sâu hai, ba mét đến khi gặp lớp đất mặt cưng cứng và đen như chì thì lấp đất xuống, đào tiếp hố khác. Thời gian bình lặng trôi… Năm ngày sau vẫn chưa tìm thấy hài cốt, Đội trưởng Phấn quyết định cử tổ của trung úy Thanh ở lại tiếp tục tìm kiếm, số còn lại chuyển sang địa bàn bên cạnh.

Mười ngày trôi qua đào hết bãi sông dài, chỉ còn trơ lại cái nền nhà máy xay lúa cũng chưa tìm thấy. Niềm tin trong Thanh bắt đầu lụi tắt, cảm thấy người bải hoải, rã rời. Dẫu vậy, anh vẫn động viên anh em tiếp tục đào nới rộng thêm. Chú Thạch Nhol thấy vậy xua tay: “Tôi nghĩ không xa như thế đâu. Có khi mấy chục năm qua phù sa bồi lấp, nơi chôn cất ngày đó giờ lùi vào trong sân này cũng nên!”. Thanh thấy có lý. Bởi đây là ngã ba sông, nếu có bồi đắp thì chỉ lùi vào trong chứ không thể kéo dài về hai phía vuông góc. Thanh xin chú cho đào khoảng sân trước cửa nhà chú, rộng chừng bảy trăm mét vuông. Chú đồng ý. Và những nhát cuốc, lưỡi leng bập xuống nền đất khô cứng này. Từng nhát một cứ công cốc… công cốc…

Bây giờ thì suy nghĩ ấy rõ ràng rồi, có thể nắm lấy được nhưng lại hoàn toàn không dám. Thanh sợ thật sự. Cũng phải thôi! Về đội hai năm lẻ, Thanh đã cùng đơn vị đi nhiều nơi, đến nhiều vùng khác nhau trên đất nước Chùa Tháp với một nhiệm vụ duy nhất mà chưa lần nào anh rơi vào trường hợp như thế này. Thậm chí, có lúc anh ngủ bên cạnh hàng chục hài cốt liệt sĩ mà có sợ sệt gì đâu.

Anh thấy mình như sắp tan ra, sắp trôi đi, sắp hóa thành sương thành khói mong manh thì phải. Cẩn thận từng chút, nhẹ nhàng di chuyển người vào sát vách nhà, vô tình tay Thanh đặt lên tấm vải dù của Nghĩa. Một cái lạnh tanh lan sang làm tay anh tê cứng không cử động được, lưỡi quéo lại. Thanh nhìn Nghĩa chằm chằm. Anh ta không có biểu hiện gì cả. Vẻ thờ ơ đó làm Thanh càng hoảng. Có lẽ Nghĩa đoán được điều ấy nên bật cười thành tiếng. Tiếng cười giòn, tan vào không gian tạo thành âm ba nghe càng rùng rợn!

- Tôi có ăn thịt đồng chí đâu mà sợ dữ vậy? Tôi chỉ xin các đồng chí hãy cố gắng đưa tôi về quê. Xa lâu quá rồi, nhớ lắm!... Hồi đó tôi cũng như các đồng chí bây giờ: trai tráng, đầy những ước mơ, hoài bão. Chỉ khác là thời tôi đất nước loạn ly. Tôi gởi lại quê nhà mọi dự định để lên đường đánh giặc. Quân hàm tôi cũng từ binh nhì phát triển dần lên như đồng chí. Việc này cũng đồng nghĩa với việc tôi hoàn thành nhiệm vụ trong mỗi trận đánh. Khi tôi được cấp trên phong hàm thượng sĩ, giữ chức trung đội trưởng thì đại đội tôi kéo từ núi Chum-ki-ri về đóng quân phía tây sườn núi Sam-ki-ri Mil-chi.

Đồng chí biết không, hồi ấy cả khu vực đó toàn rừng rậm, còn trên núi thì vách đá cheo leo lại rất nhiều lò ảng, ngõ ngách, khá thuận tiện để bố trí đài, chốt quan sát. Tính từ chân núi phía đông ra tới đường cái khoảng hai cây số, do đó, nếu địch đánh vào thì trung đội tôi sẽ là mục tiêu đầu tiên của chúng, bởi nhiệm vụ của chúng tôi là bảo vệ Sở chỉ huy Đoàn mà! Tôi nhớ ngày hôm đó, đâu chừng mười giờ sáng ngày tám tháng tư, đúng ngày sinh của tôi hai mươi hai năm trước – một sự trùng hợp ngẫu nhiên giống hệt như tôi thường nói giỡn với anh em rằng: “Mai này hết giặc, tao tổ chức sinh nhật sẽ mời cả trung đội tới nhậu. Còn nếu lỡ tao có hy sinh đúng ngày sinh nhật thì chắc ngộ lắm hén. Vừa sinh nhật vừa giỗ luôn, khỏi nhiều lần tốn kém!”. Nói là để an ủi mình chứ tôi có biết tổ chức một bữa sinh nhật là cái khỉ gì đâu, tại nghe mấy đồng chí miền Bắc kể rồi mình ước vậy thôi. Nhưng, tưởng nói chơi mà ai ngờ trúng thiệt, đồng chí ạ! Nè, đồng chí nhìn kỹ xem…

Đoạn, Nghĩa đưa tay tháo băng ra-gô trên đầu để “khoe” phần vẹt khuyết một mảng đầu bên phải đỏ au giống như trái dưa hấu bị vạt mất một phần ba.

Thanh quay mặt đi…

Miệng ú ớ…

Và bật dậy.

Mồ hôi tuôn ra như tắm. Thanh bỗng rụt tay lại. Rồi anh trấn tĩnh. Đó là cái mền chứ không phải tấm vải dù bông. Nằm cạnh anh, Bình vẫn ngáy khò khò. Cửa nhà chú Thạch Nhol vẫn đóng. Ngoài hiên, các chiến sĩ ngủ võng ngon lành dưới hàng cây thốt nốt. Đêm nay không trăng, vài ánh sao xa nhấp nháy. Anh bấm nút cái Nokia xem đồng hồ: gần ba giờ sáng!

*

* *

Hôm nay là ngày Thanh vui nhất. Tổ anh đã hoàn thành nhiệm vụ, kết quả đúng như dự kiến. Dẫu thời gian và công sức bỏ ra khá nhiều, nhưng bù lại, niềm vui mừng khôn xiết khỏa lấp sự mệt nhọc. Dưới tầng sâu năm lớp leng chỗ cối gạo ấy, đất đã đổi màu làm anh em trong tổ bật khóc. Mọi người quăng bỏ leng cuốc, dùng tay thận trọng bới từng nắm đất chuyền lên. Những nắm đất tơi xốp xám ngắt thấm nước mắt họ. Tấm tăng đầu tiên mở ra lạo xạo, tiếng rèn rẹt khi xé cái võng bên trong. Một hình hài bất động hiện ra hãy còn nguyên vẹn, chỉ có hàm răng nhe ra như đang cười! Chỉ có hài cốt thứ hai còn tấm dù bông, nhưng hơi tiếc, mất một phần sọ đầu và một đoạn chân trái. Cái đoạn chân ấy là do người ta dùng một trụ bê-tông đúc sẵn, cắm phập xuống làm giá đỡ cối gạo nên cái chân trái phải lìa đôi. Thanh chợt nhớ lần đầu tiên gặp Nghĩa, vì sao anh ta cứ đi cà nhắc!

Nghĩa lại đến. Lần này anh đi cùng một chàng trai trẻ có nước da trắng, mắt sáng, mày rậm, miệng cười tươi. Nghĩa giới thiệu đấy là Chiến. Thanh nhớ mình đã gặp Chiến ở đâu đó… Đúng rồi, lúc anh trôi bồng bềnh từ núi Sam-ki-ri Mil-chi về ngã ba sông Sà-kai. Mấy mươi năm rồi Chiến vẫn vậy. Vẫn trẻ trung, hồn nhiên tuổi mười bảy. Chiến ít nói, thỉnh thoảng góp một hai câu rồi cười, đôi lúc anh thấy môi Chiến mím chặt.

- Cám ơn các đồng chí nhiều lắm! – Nghĩa giải bày – Mà nè, hồi chiều đồng chí cho chúng tôi ăn mắm bò-hốc, ngon đáo để. Có điều tôi vẫn thèm canh chua cá kho do má tôi nấu quá!

- Nhưng em ăn mắm không được! – Chiến nhăn mặt.

- Thì mày qua đây mới có mấy ngày, chưa quen thôi. Ăn được rồi mày ghiền luôn. Như anh mày vầy nè.

- Cơm chiều là do chú Thạch Nhol đãi. Chú nói có gì ăn nấy, cùng là người nhà cả – Giọng Thanh nhỏ lại – Mà chú có ý trách mấy anh không phù hộ chú làm ăn để nhà máy vắng khách. Bộ anh giận vụ cái chân trái hả?

- Bậy nè! Mọi việc do ông trời chứ không phải tôi à nghen. Còn cái chân này là do Tùa Hảo chứ đâu phải ổng. Ổng xay lúa gia công nên xay nhiều thì tiền nhiều, xay ít thì tiền ít. Đồng chí nghĩ coi, thường thì người ta xay lúa ra gạo trắng, tuy tấm và cám có nhiều nhưng chậm; còn ổng điều chỉnh bàn gằng, điều chỉnh cối cho gạo xuống nhanh, gạo không sạch, thóc nhiều, kém chất lượng. Ông trời phạt ổng tội làm ăn không đàng hoàng là đúng rồi.

- Người ta kinh doanh mà, phải có mánh khóe mới mau giàu chứ!

- Thôi, bỏ qua chuyện đó đi - Nghĩa đứng dậy - Đồng chí phải đưa tôi về quê chứ, cả thằng Chiến này nữa. Hứa nghen!

Thanh gật đầu cười. Nghĩa và Chiến lập tức quay lưng bỏ đi. Hai cái bóng tiến dần về phía sông Sà-kai. Thanh chạy theo gọi lại nhưng họ đã mất hút trên mặt sông phẳng lặng...

“Anh Thanh…! Anh Thanh…!”.

Thanh bừng tỉnh. Bình vừa cười vừa ngáp: “Anh gọi ai vậy? Lại mơ nữa à?”. Anh không trả lời Bình, nhìn sang cái bàn để hai bộ hài cốt được gói bọc cẩn thận, trên có phủ cờ Tổ quốc. Mấy cây nhang trong lư hương đã tắt tự lúc nào. Anh nhỏm dậy, bật hộp quẹt đốt mấy nén nhang mới, cắm vào.

Trại viết Văn nghệ Quân đội
Thành phố Hồ Chí Minh 6. 2008
HỒ KIÊN GIANG⨪
Chia sẻ:
Tags: bien thuy giac mo mo bien nhung giac
Xem Video: bien thuy giac mo mo bien nhung giac Tải game avatar Tải game avatar Tải game tiến lên Tải game mobi army

More posts:
Du học Singapore: Một giấc mơ có thật (Kỳ 7): Hành trình chinh phục tri thức
Valiance Online: Hiện thực hóa giấc mơ siêu anh hùng
Tân Thiên Long 3D: Nối lại giấc mơ tình yêu của Thiên Long Bát Bộ
Khi nào nam giới chấm dứt “giấc mơ ẩm ướt”?
Nữ thạc sỹ vụt tắt giấc mơ vì tai nạn kinh hoàng
Game thủ Cửu Âm Chân Kinh và giấc mơ mang tên Kỳ ngộ
Giấc mơ “xe ASEAN”
Giấc mơ dang dở của cô gái bị bỏng nặng vì cồn đổ vào người
Vụ TMV Cát Tường: Giấc mơ lạ của Khánh sau khi nghe bản cáo trạng mới
Vụ Cát Tường: Giấc mơ lạ của Khánh sau khi nghe bản cáo trạng mới
Dota 2: Huyền thoại Yamateh và giấc mơ The International 5
Hot girl Dương Thúy Vi tiết lộ giấc mơ dang dở
Giấc mơ trở thành phụ nữ của người đồng tính nam
Lặng nghe “Giấc mộng thời trai”, nhớ về Công Thành Chiến
Giấc mơ “sex” cùng… người lạ!
Ý nghĩa đằng sau những giấc mơ về chuyện sex
WAGs xinh nhất Anh và giấc mơ thầm kín
“Giấc mơ Trung Hoa” của ông Tập Cận Bình và vận mệnh Hồng Kông
Giấc mơ đến trường bên gánh khoai lang
Đừng tìm em, dù là trong giấc mơ


User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
Trắc nghiệm

 





Album hot nhất


Giới thiệu Games


Siêu Mua - Sitemap - Bản rút gọn - Kho Game - Hot tags - Tofaco - Ongame mobi Time is now: 31st October 2014 - 09:44 PM
2, 3, 123, 5, 208, 8, 9, 10, 12, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 37, 38, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 243, 50, 251, 53, 54, 56, 57, 58, 192, 61, 62, 63, 64, 65, 229, 69, 70, 71, 246, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 101, 102, 103, 104, 105, 106, 107, 108, 213, 110, 111, 252, 114, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 122, 126, 124, 125, 136, 133, 134, 137, 144, 167, 150, 151, 155, 158, 164, 166, 179, 181, 180, 210, 182, 185, 184, 186, 187, 188, 189, 190, 191, 193, 49, 202, 197, 198, 247, 199, 200, 203, 204, 205, 206, 209, 211, 212, 220, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 227, 230, 231, 233, 235, 236, 238, 239, 240, 241, 242, 244, 256, 245, 248