Tìm kiếm:

> Côn Luân, TG:Phượng Ca
quynhmi
bài viết 29 Aug 09 12:47
    Gửi vào: #1
Ông Trùm Thành viên thứ: 242878 Tiền mặt: 98917050
Group Icon Tham gia: 1-March 09 Được cám ơn: 83
Nhóm: Members Bài viết: 1113 No Yahoo Messenger
Đôi lời về tác giả :
IPB Image



Phượng Ca (ảnh trên), tên thật là Hướng Kỳ Cương, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1977 tại Phụng Tiết (Trùng Khánh), tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý hành chính Đại học Tứ Xuyên năm 2001. Tuy rất thích tiểu thuyết võ hiệp, nhưng Phượng Ca chưa bao giờ ngờ rằng, cuộc sống của mình lại nên duyên sâu đậm với nó. Hiện nay, nhờ viết tiểu thuyết võ hiệp mà Phượng Ca trở thành nổi tiếng, và vừa nhận chân biên tập trong một tạp chí võ hiệp.

Khác với các nhà văn còn lại trong nhóm Thần Châu tân ngũ hiệp, Phượng Ca rất ít xuất hiện trước công chúng. Bỏ qua lời bình của các chuyên gia, ở đây tôi dịch hầu các bạn một bài ngắn:

Thương Nguyệt nói về Phượng Ca:

Trích từ:Ngọn ‘Côn Luân’ bắt đầu vươn lên năm 2005, đến nay nhớ lại, thấy thời gian trôi đi thực nhanh quá.
Tôi quen Phượng Ca được bốn năm, thì ba năm trong đó là biết anh qua bộ ‘Côn Luân’.
Lúc ấy chúng tôi đều đang sinh hoạt trên diễn đàn Thanh Vận – một nơi ngoạ hổ tàng long, tập hợp rất nhiều cây viết ưu tú như Yên Vũ Giang Nam (tác giả bộ Tiết Độc - Alex), Tiểu Đoạn, Trầm Anh Anh… Tuy diễn đàn không có nhiều độc giả, cũng không có nhiều thành viên, nhưng những tác phẩm và bài bình ở đó luôn được duy trì ở một trình độ rất cao. Cũng giống như trong hồ nước sâu thăm thẳm, thi thoảng vẫn trông thấy bong bóng do đàn cá lặn thấp thở ra.
Giữa bầu không khí lặng lẽ ấy, Côn Luân xuất hiện, hệt như tiếng sấm động rền vang, mấy năm sau đó luôn được quần chúng theo dõi hết sức chăm chú. Dạo ấy, tôi cũng là một trong số quần chúng, đọc từng trang viết, thấy thiết mã kim qua, khí tượng vạn thiên, phải ngấm ngầm thốt lên: vận dụng số học độc đáo, ngôn từ điêu luyện, văn bút thực đã đến mức lư hoả thuần thanh(!)
Biết tên tác giả là Phượng Ca, nhưng phải mấy năm sau chúng tôi mới có dịp làm quen và kết bạn.
Đều là dân viết lách, tận dụng sự tiện ích của Internet, chúng tôi thường luận kiếm với nhau, nhưng do văn phong hai bên hoàn toàn tương phản, đôi lúc tranh luận hết sức gay gắt, chẳng ai chịu ai, thường kết thúc trong sự không vui của cả hai. Về sau nghĩ lại, nghiền ngẫm lật giở những buổi tranh luận ấy, tôi lại vỡ vạc được nhiều điều.
Ngoài mối tri giao cá nhân, chúng tôi còn có quan hệ công việc. Phượng Ca là phó chủ biên Kim cổ Truyền kỳ Võ hiệp, tôi thì viết bài cho tạp chí của anh ấy. Tính tôi lười và viết lách khá tuỳ hứng, thường xuyên bị thúc bài, và thường xuyên tìm cách trì hoãn. Cũng tại cái tính ấy, tôi rất khâm phục Phượng Ca, tuy ngổn ngang nhiều việc nhưng vẫn kiên trì với ước vọng của mình, bỏ biết bao thời gian, đặt từng viên gạch, từng cái kèo rầm cho ‘Côn Luân’, đưa dần nó lên đỉnh cao của thế giới võ hiệp.

Phượng Ca hiện đã viết được hai bộ tiểu thuyết: Côn Luân (昆倫) và Thương Hải (滄海), đều cực kỳ nổi tiếng. Thương Hải vẫn đang viết, viết đến đâu in đến đấy.

‘Côn Luân’ gồm 120 vạn chữ, chia thành các phần

Phần 1 – Thiên Kiêu Thiết Huyết (7 chương) (xem dần dần ở đây)

Phần 2 – Hoa Vũ Giang Nam, gồm 6 quyển nhỏ:

· Thiên Cơ quyển (14 chương)

· Thuần Dương quyển (12 chương)

· Phá Thành quyển (12 chương)

· Long Du quyển (13 chương)

· Kiếp Ba quyển (14 chương)

· Thiên Đạo quyển (14 chương)

Phượng Ca viết ‘Côn Luân’ trong vòng ba năm, và in thành sách vào tháng 9 năm 2005. Đúng như cái tên của tác giả, ba năm im lặng, vừa hót một tiếng, kinh động thiên hạ. Nhan đề sách in là thủ bút của Lương Vũ Sinh, lời tựa do Hàn Vân Ba - đệ nhất nhân của giới nghiên cứu võ hiệp đại lục viết.

‘Côn Luân’ đã đạt giải nhất cuộc thi Võ hiệp Truyền kỳ xưa và nay do Đại học Bắc Kinh tổ chức, trao giải tháng 11 năm 2006. Nội dung phong phú: thiên văn địa lý, cơ quan thuật số, bài binh bố trận, không gì không có, không gì không tinh, nhất là kiến thức về toán học cổ đại, thực khiến người ta phải vỗ án khen hay.

‘Côn Luân’ là một thu hoạch lớn của võ hiệp đại lục trong vòng mười năm gần đây. Sau khi Kim Dung phong bút, Cổ Long qua đời, rất lâu rồi văn học võ hiệp chưa đem lại điều gì mới mẻ và đáng mừng cho độc giả. Những tác phẩm kỳ ảo ồ ạt ra đời khiến giang hồ đích thực càng thêm buồn nản. Đúng lúc đó, ‘Côn Luân’ xuất hiện, như một vì sao báo hiệu thời tái sáng thế của tiểu thuyết võ hiệp.
Chia sẻ:
Tags: con luan
Xem Video: con luan Tải game avatar Tải game avatar Tải game tiến lên Tải game mobi army

More posts:
Thúy Yên, Côn Luân sẽ gia nhập Kiếm Thế 2 vào cuối tháng 5/2015
Choáng ngợp vì giai nhân Mộng Ảo Côn Luân
Huong Dan Cach Pk Phoi Hop Skill Cua Phai Côn Luân pb (10.0.1) Võ Lâm Truyền Kỳ 2 HOT 756
Huong Dan Cach Pk Phoi Hop Skill Cua Phai Côn Luân pb (10.0.1) Võ Lâm Truyền Kỳ 2 HOT 725
Hướng Dẩn Cách Pk Kết Hợp Skill Của Phái Côn Luân pb (10.0.2)
Huong Dan Cach Pk Phoi Hop Skill Cua Phai Côn Luân pb (10.0.1) Võ Lâm Truyền Kỳ 2 HOT 422
Huong Dan Cach Pk Phoi Hop Skill Cua Phai Côn Luân pb (10.0.1) Võ Lâm Truyền Kỳ 2 HOT 22
Huong Dan Cach Pk Phoi Hop Skill Cua Phai Côn Luân pb (10.0.1) Võ Lâm Truyền Kỳ 2 HOT 121
Huong Dan Cach Pk Phoi Hop Skill Cua Phai Côn Luân pb (10.0.1) Võ Lâm Truyền Kỳ 2 HOT 46
Huong Dan Cach Pk Phoi Hop Skill Cua Phai Côn Luân pb (10.0.1) Võ Lâm Truyền Kỳ 2 HOT 21
Huong Dan Cach Pk Phoi Hop Skill Cua Phai Côn Luân pb (10.0.1) Võ Lâm Truyền Kỳ 2 HOT 358
Huong Dan Cach Pk Phoi Hop Skill Cua Phai Côn Luân pb (10.0.1) Võ Lâm Truyền Kỳ 2 HOT 306
Huong Dan Cach Pk Phoi Hop Skill Cua Phai Côn Luân pb (10.0.1) Võ Lâm Truyền Kỳ 2 HOT 322
Huong Dan Cach Pk Phoi Hop Skill Cua Phai Côn Luân pb (10.0.0) 10.0.0 Võ Lâm Truyền Kỳ 2 HOT 362
Huong Dan Cach Pk Phoi Hop Skill Cua Phai Côn Luân pb (10.0.0) 10.0.0 Võ Lâm Truyền Kỳ 2 HOT 340
Huong Dan Cach Pk Phoi Hop Skill Cua Phai Côn Luân pb (10.0.0) 10.0.0 Võ Lâm Truyền Kỳ 2 HOT 314
Huong Dan Cach Pk Phoi Hop Skill Cua Phai Côn Luân pb (10.0.0) 10.0.0 Võ Lâm Truyền Kỳ 2 HOT 290
Huong Dan Cach Pk Phoi Hop Skill Cua Phai Côn Luân pb (10.0.0) 10.0.0 Võ Lâm Truyền Kỳ 2 HOT 259
Huong Dan Cach Pk Phoi Hop Skill Cua Phai Côn Luân pb (10.0.0) 10.0.0 Võ Lâm Truyền Kỳ 2 HOT 235
Huong Dan Cach Pk Phoi Hop Skill Cua Phai Côn Luân pb (10.0.0) 10.0.0 Võ Lâm Truyền Kỳ 2 HOT 208

Tài sản:


[Xem tất cả tài sản]
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
3 Pages V  1 2 3 >  
Reply to this topicStart new topic
Replies(1 - 9)
quynhmi
bài viết 29 Aug 09 01:00
    Gửi vào: #2
Ông Trùm Thành viên thứ: 242878 Tiền mặt: 98917050
Group Icon Tham gia: 1-March 09 Được cám ơn: 83
Nhóm: Members Bài viết: 1113 No Yahoo Messenger
Tiền truyện – Thiên Kiêu Thiết Huyết

Chương 1 – Đường vào đất Thục khó đi



Núi Đại Ba, tây nối dãy Tần, đông thông đèo Vu, hiểm trở hùng vĩ, nổi tiếng khắp thiên hạ. Đường núi vừa gập ghềnh vừa chật hẹp, nơi nơi là hào sâu khe rộng. Đại Ba cheo leo hiểm trở, chim khó bay qua, vượn không trèo tới đỉnh. Lý Thái Bạch hiểu biết rộng, ngao du nhiều nơi, qua vùng này không kìm được phải thở dài: “Đường vào đất Thục khó hơn lên trời.”

Đương độ tháng chín, trời nhằm tiết thu, phong đỏ nhuộm thắm dãy núi, lá vàng như bươm bướm, cảnh sắc vô cùng rực rỡ.

Vùng núi nhấp nhô hiểm trở, chỉ có một con đường hẹp sống trâu, trên kề vách đá dựng đứng, dưới mấp mé vực sâu thăm thẳm, uốn lượn chạy về hướng nam. Gió thổi tới, lật tung những mớ dây leo khô trên vách cao, để lộ ba chữ lớn màu đỏ sẫm lốm đốm: “Thần Tiên Độ”.

Lúc ấy trong núi tịch mịch, chim nín trùng im, suối chảy lặng lẽ. Bỗng có tiếng người nói vang lên, nghe rõ mồn một trong cảnh vắng. Tiếng nói to dần, rồi một già một trẻ xuất hiện, đi tới trên con đường quanh co uốn khúc.

Người già chừng hơn năm mươi, thân hình cao lớn, tinh thần phấn chấn, khuôn mặt thô kệch, hai mắt sáng quắc. Người trẻ gầy yếu, mặt tròn như trăng rằm, mi mắt thanh tú, để ria mép, mỉm miệng cười.

“Bố ơi, chỗ này tên là Thần Tiên độ, nhưng con thấy cũng chỉ từa tựa ‘Thiên Xích tràng’, ‘Diêu tử phiên thân’ ở Hoa sơn vậy thôi.” Thiếu niên nói.

“Văn Tĩnh à, mày chỉ biết địa thế hiểm trở mà không biết lòng người độc ác. Nơi đây lâu nay vẫn là chỗ ẩn núp của bọn cường đạo, vực với khe này đã phơi xương rất nhiều khách bộ hành và thương lữ.” Ông già bất giác thở dài.

“Kỳ hiểm dã nhược thử, ta nhĩ viễn đạo chi nhân, hồ vi hô lai tai!” Văn Tĩnh lắc đầu.

“Thằng ranh này, nói cái quái gì vậy?” Ông già trừng mắt.

Văn Tĩnh lè lưỡi: “Đó là một câu trong Thục Đạo Nan của Lý Bạch, nghĩa là ‘Đường vào đất Thục đã nguy hiểm và trắc trở như vậy, vì sao người ta vẫn lặn lội từ ngàn dặm xa xôi tới đây’?”

“Mày chẳng hiểu gì cả! Nếu không phải vì kiếm cơm đút miệng, ai lại muốn bỏ vợ dại con thơ đến cái nơi quỷ quái này?”

“Thế,… liệu chúng ta có gặp cường đạo không?”

“Xem chừng mày rất muốn thì phải.” Ông già ngắm nghía gã trai.

Văn Tĩnh cười ha hả: “Nếu gặp thật, chưa biết ai cướp ai đâu.”

“Ỷ vào mấy miếng võ mèo quào của mày ấy ư?” Ông già cười nhạt, “Sớm muộn gì cũng bị người ta nện cho một trận chết toi.”

“Lúc nào bố cũng chê bai con.” Văn Tĩnh đỏ mặt tía tai: “Huyền Âm đạo trưởng nói con căn cơ thâm hậu, ngộ tính rất cao. Lần trước một mình con đấu lại Vũ Thanh và Vũ Linh, cuối cùng hai đạo đồng ấy thua còn gì.”

“Phì.” Ông già nổi giận, dí ngón tay vào chóp mũi cậu con: “Đồ mặt dày! Vũ Thanh, Vũ Linh đều chưa đầy mười tuổi, mày thì bao nhiêu tuổi rồi? Nói đi, mày bao nhiêu tuổi?”

Văn Tĩnh bị mắng tối tăm mặt mũi, lúng túng: “Tại chúng nó ra tay với con trước.”

“Hừ, còn già mồm?” Ông bố bắt đầu xắn tay áo, Văn Tĩnh vội vã giật lui.

“Giỏi thì chạy đi.” Toan dạy cho thằng con một bài học, đột nhiên nghe thấy đằng xa có tiếng quạ la quang quác, ông già bất giác dừng chân, ngạc nhiên nói: “Sao lũ quạ kêu la ghê thế nhỉ?”

Văn Tĩnh ngẩng đầu nhìn lên: “Đằng trước kia xảy ra chuyện gì chăng?”

Ông già lườm con: “Mày đợi ở đây. Ta đi xem sao.” Nói rồi nhấc chân, thoáng cái biến mất ở khúc cuối con đường

Luẩn quẩn đợi một lúc, sương mù dâng lên trong khe núi, trắng mờ mịt không nhìn thấy gì cả, Văn Tĩnh đâm ra bứt rứt. Bỗng nhiên tiếng quạ đằng xa lại vẳng tới, gã bỗng sởn gai ốc, sợ hãi khó tả, không câu nệ lời cha dặn nữa, bèn men theo vách đá, lần lần tiến lên.

Đi được chừng ba dặm, thấy phía trước mở ra rộng rãi bao la, một khoảng đất trống xuất hiện. Văn Tĩnh nhóng mắt nhìn kỹ, hoảng hồn suýt bước hụt chân.

Trên nền cỏ xanh mơn mởn, có hai mươi mấy cái thây nằm ngã ngổn ngang, đều há hốc mồm, mắt lọt khỏi tròng, cổ bị khía một vết thương, máu đã đông tím lại trong làn gió núi.

“Mẹ ơi!” Đờ đẫn một lúc lâu, cuối cùng Văn Tĩnh buột miệng kêu lên.

“Đừng lải nhải nữa!” Ông già đứng bên một thi thể, không ngoảnh đầu lại, trên tay là một miếng ngọc bài trong suốt lóng lánh như mỡ dê.

“Chuyện gì thế bố?” Văn Tĩnh hỏi, tim đập thình thịch.

“Mày hỏi ta, ta biết hỏi ai?” Ông già nói, “Đám người này chết ít nhất cũng được hai canh giờ rồi.”

“Lạ nhỉ!” Văn Tĩnh lấy lại can đảm, bước đến xem xét thật kỹ mấy cái xác: “Những người này đều bị thương ở cổ… Ôi, độ nông sâu giống hệt nhau, như thể dùng thước đo ấy.”

“Ừ, tất nhiên. Ta nghĩ do một người hạ thủ thôi.”

Văn Tĩnh giật mình, ngó lão già trừng trừng: “Bố nói dối.”

“Mày bảo sao cơ?” Ông già giơ nắm tay to tướng lên.

Gã trai vội vả vào miệng mình, cười xoà: “Sao bố biết là do một người hạ thủ?”

“Không còn gì đơn giản hơn.” Ông già bảo: “Mày nhìn các vết chân dưới đất, ngoài của mày, của ta, thì chỉ còn hai loại. Một là dấu giày đầu hổ, đó là thứ giày người giàu thường xỏ lúc leo núi. Một là dấu giày đế mỏng, thường dùng để phi hành hoặc chạy trên vách đá, rất ít đeo khi đi đường núi. Ta vừa xem rồi, những người chết này đều mang giày đầu hổ.”

Văn Tĩnh chăm chú quan sát: “Bố thực là mắt sáng như sao, liệu việc như thần, nhưng mà… nhưng mà… sao con không nhìn thấy dấu giày đế mỏng?”

Ông già ngồi xổm xuống, chỉ vào một chỗ lõm bé xíu trên mặt đất, “Nông thế này mà!” Văn Tĩnh trố mắt.

Ông già chậm rãi đứng lên: “Kẻ này võ công cao lắm, thực khiến người ta khiếp sợ. Đao pháp thì khỏi phải nói rồi, ngay thuật khinh thân, cả đời Lương Thiên Đức ta cũng chưa trông thấy bao giờ.”

“Không thể nào. Chắc tại bọn này kém quá mà thôi.”

Lương Thiên Đức siết chặt nắm tay, khớp ngón kêu răng rắc, biến ra trắng bệch: “Nhìn dấu tích đả đấu, đủ thấy những kẻ táng mạng này không phải hạng tầm thường, trong đó có mấy người công phu quyền cước còn trên cả ta.”

Văn Tĩnh trố mắt, sống lưng lạnh toát. Một lúc lâu sau mới nói: “Hay họ gặp ma?”

“Gì cơ?”

“Người mà có hạng ghê gớm như vậy sao?”

“… Mày chả hiểu gì hết, thật là một thằng nhóc không biết trời cao đất dày.” Lương Thiên Đức trừng mắt.

Văn Tĩnh gợi ý: “Bố, mình lỡ gặp phải, thôi thì chôn cất họ đi.”

“Không được.” Lương Thiên Đức nói, “Mấy người này lai lịch phức tạp, chôn cất lặng lẽ e rằng sẽ phạm một sai lầm rất lớn.”

“Hay chúng ta báo quan.” Văn Tĩnh vừa nói dứt, đã run lên cầm cập.

“Quan lại Tống triều chẳng có mấy người tốt.” Lương Thiên Đức nói: “Đừng can thiệp những việc không phải của mình, chuốc vạ vào thân đấy.” Lão vừa nói, vừa chà xát miếng ngọc bài, cau mày như do dự điều gì, một lúc sau thở dài, thả xuống xác một thanh niên tuấn tú vận áo trắng, rồi quay mình bỏ đi. Văn Tĩnh đợi lão đi xa, len lén cầm lên xem, thấy nó trong suốt lóng lánh, chạm trổ rất tinh xảo, chín con giao long sống động như thật ôm lấy bốn chữ triện thếp vàng: “Như – Trẫm – Thân – Lâm1”. Gã đang khe khẽ xuýt xoa, chợt nghe thấy ông già gọi, giật thót nhìn lên, Lương Thiên Đức đã lại quay mình bỏ đi rồi. Không kịp đặt miếng ngọc xuống nữa, Văn Tĩnh bèn nhét luôn nó vào ngực áo, cảm thấy hơi lạnh thấm sang người.

“Đi mau!” Lương Thiên Đức hét: “Nhỡ ai đến thì làm thế nào?”

“Bố đúng là non gan nhát chết.” Văn Tĩnh vừa đi vừa lẩm bẩm.

Lương Thiên Đức thính tai, nghe thấy loáng thoáng bèn hỏi, “Mày nói gì?”

Văn Tĩnh xám mặt, định phân trần, bỗng nghe thấy đằng xa có tiếng hát vang lên:

“Ôi , chao ôi!

Nguy hề, cao thay!

Đường Thục khó, khó hơn lên trời xanh .

Tàm Tùng và Ngư Phù,

Mở nước bao xa xôi!

Đến nay bốn vạn tám ngàn năm,

Mới cùng ải Tần liền khói người…”

Một nho sinh ăn vận rách rưới, mặt như gà chọi, say sưa loạng choạng, cầm một bầu rượu sơn đỏ, lảo đảo bước ngược lại.

“Phía tây núi Thái Bạch có đường chim,

Vắt ngang đến tận đỉnh Nga Mi,

… à… Nga Mi… à…”

Ngang qua hai cha con, ông ta bỗng hụt chân, chao người đi, Văn Tĩnh tuổi trẻ nhiệt tình, vội vã thò tay đỡ. Nho sinh phất tay áo rách, đẩy Văn Tĩnh ra, tiếp tục ca:

“Rồi sau thang trời, lối đá mới nối liền.

Trên đỉnh có sáu rồng, lượn quanh vầng nhật;

Dưới có dòng sâu rẽ ngược, sóng cả đua chen.

Hạc vàng bay qua còn chẳng được;

Vượn khỉ toan vượt, buồn với vin.” 2

Vừa hát vừa bỏ đi.

“Bố, đằng sau là ‘Thần Tiên độ’. Ông ấy rệu rã như thế làm sao vượt qua được?” Văn Tĩnh hỏi.

“Hừ, anh khoá hỏng thi, văn nhân buồn bã. Đại Tống thực đáng ghét! Chẳng có gì hay, chỉ toàn những người nghèo nàn khốn khổ.” Ông già cau mày, hai cha con cùng ngoái lại, bất giác ngơ ngác nhìn nhau, con đường quanh co uốn khúc tịnh không một bóng người.

“Bố… bố…! Chúng… ta gặp… gặp ma rồi!” Văn Tĩnh thều thào.

“Bậy bạ, mặt y đỏ rực thế, có chỗ nào giống hồn ma bóng quế đâu?”

Ông già ngoài miệng trách móc, nhưng trong bụng cũng kinh hãi vô cùng. Sau đó, họ đều im lặng, không trò chuyện gì nữa, cứ cắm đầu cắm cổ đi. Được một thôi đường, vượt qua một con đèo, bỗng trông thấy một dòng suối trong chảy róc rách, một cây cầu độc mộc bắc ngang hai bờ, đầu cầu có một quả đồi, mấy ngọn núi xanh ôm ấp vài ba căn nhà, khói nhẹ loăn xoăn theo gió trôi lên.

“Đằng kia có quán trọ.” Văn Tĩnh reo mừng, trỏ tay về một dãy nhà lợp ngói xanh phía xa. Trước cửa treo hai quả đèn lồng, viết tám chữ lệ: “Khách sạn Ba Sơn, đến như về nhà”. Ông già cũng mỉm cười.

Hai người đến trước quán trọ, chưa bước vào, một tiểu nhị đã chạy ra, nhìn họ thật kỹ: “Xin lỗi, ở đây có người bao hết rồi.”

Văn Tĩnh thất vọng vô cùng, nói với cha: “Bố ơi, con đói lắm.”

Lương Thiên Đức cau mày: “Chúng tôi ăn cơm xong là đi ngay. Mong anh giúp đỡ.”

“Thế thì…” tiểu nhị tỏ vẻ trù trừ.

“Mọi người đều là khách, hà tất câu nệ như thế.” Trong quán có tiếng sang sảng vọng ra, “Anh cứ mời họ vào.”

“Vâng, vâng.” Tiểu nhị tránh sang nhường đường. Văn Tĩnh vui mừng, lao vào trước.

“Thằng ranh, chỉ ăn là giỏi.” Lương Thiên Đức bất lực làu bàu.

Trong quán có một cái bàn bát tiên3, ba người đang ngồi. Người ngồi đầu bàn là một văn sĩ áo trắng, mảnh khảnh sạch sẽ, râu tóc đen nhánh, tay phe phẩy một cây quạt gấp. Người ngồi mé phải là một ông già rắn rỏi, khuôn mặt đen cháy, râu dài tới ngực, đôi mắt lim dim, bộ dạng uy nghiêm. Người thứ ba là một hán tử trung niên, mày rậm mắt tròn, da thịt rắn chắc, lưng đeo một thanh đại đao chín khuyên, trông thấy Văn Tĩnh xăm xăm chạy vào, y cau mày.

“Ba cân thịt bò, ba cân cơm, ờ… một cân rượu nếp, một đĩa rau… Ôi chà!” Văn Tĩnh ôm đầu, sợ sệt nhìn cha.

“Thằng ranh này, mày ăn hết không?” Lương Thiên Đức sầm mặt hỏi.

“Quý khách còn dùng gì nữa ạ?” Tiểu nhị cười ngọt ngào.

“Đủ rồi.” Lương Thiên Đức lắc đầu.

Tiểu nhị thấy hai cha con quần thô áo vải, nhíu mày nói: “Xin lỗi, quán chúng tôi có lệ bất thành văn, tiền trao cháo múc, mong quý khách trả tiền trước.”

Lương Thiên Đức ngắm nó thật kỹ: “Đồ mục hạ vô nhân, ngươi tưởng các ông đây ăn không chăng?”

Tiểu nhị cười ha ha: “Đâu dám! Quý khách thực biết nói đùa!”

Lương Thiên Đức khoát tay: “Văn Tĩnh, lấy tiền ra.”

Văn Tĩnh vâng lời, thò tay vào ngực áo, mắt bỗng trợn lên, lần tay khắp trên dưới, ngó cha, nước mắt chực trào ra: “Bố ơi, túi tiền… túi tiền… mất rồi.”

“Cái gì?” Lương Thiên Đức kêu lên.

“Hơ.” Tiểu nhị lập tức sầm mặt: “Quý khách, quán chúng tôi vốn nhỏ lời ít, xưa nay không bán chịu.”

Lương Thiên Đức tức giận nhìn con. Văn Tĩnh mếu máo: “Con nhớ là đã đếm kỹ trước lúc qua Thần Tiên độ, thế mà giờ không thấy nữa.”

“Ta biết đâu đấy? Tay nải toàn do mày đeo mà.” Lương Thiên Đức không kìm được vung tay đánh.

Văn Tĩnh ôm đầu, kêu van: “Con nhớ ra rồi, chính cái tên nho sinh ma quỷ ấy, nhất định đã nhằm lúc con tốt bụng giơ tay ra đỡ, nhưng mà…” Văn Tĩnh lắc đầu: “Sao con không phát giác ra nhỉ.” Gã ngấm ngầm than thở, không những túi tiền, mà cả miếng ngọc bài dúi trong ngực cũng bị tên đó nẫng mất rồi, nếu không thì còn có thể mang ra đổi cơm ăn. Tên nho sinh khốn kiếp xấu xa! Nghĩ đến đây, gã suýt oà khóc.

“Thế mà cũng đòi luyện võ.” Lương Thiên Đức không kìm được nữa, tóm lấy cổ gã. Văn Tĩnh la oai oái như lợn bị chọc tiết.

“Quý khách, mời các vị ra ngoài đánh nhau.” Tiểu nhị hầm hầm đuổi.

Lần đầu tiên trong đời bị sỉ nhục như thế, Lương Thiên Đức tím mặt, uất ức vô cùng, dợm chân toan chạy ra cửa, chợt nghe thấy văn sĩ cười bảo: “Nếu các hạ không chê, Bạch Phác đứng ra mời mọi người cùng uống một ly?” Lương Thiên Đức sững sờ, chưa kịp đáp, đã thấy Văn Tĩnh xoa cổ lầm bầm: “Đến tối biết làm sao đây?”

“Khốn kiếp!” Lương Thiên Đức trừng mắt tức giận.

“Bố ơi, con đói thật mà.” Bụng Văn Tĩnh kêu lục bục.

Lương Thiên Đức toan chửi mắng, song nhìn bộ dạng thiểu não của thằng bé lại không nỡ cất lời. Bạch Phác cười: “Người ta sống trên đời, ai chả có lúc khó khăn. Huống hồ tại hạ còn có việc muốn thỉnh giáo, mong huynh đài đừng chối từ.”

“Thôi được!” Lương Thiên Đức thở dài, cúi đầu vòng tay đáp: “Thịnh tình của các hạ, Lương mỗ xin nhận!” rồi gượng gạo cùng Văn Tĩnh lại ngồi, không dưng thọ lãnh ân huệ của người ta, trong lòng vô cùng khó chịu.

“Đây là Đoan Mộc tiên sinh, tên huý Trường Ca.” Bạch Phác chỉ ông già mặt đen. “Còn đây là Nghiêm Cương huynh, người ta thường gọi là Bát tý đao.” Y trỏ hán tử mang đao. Hai người hơi cúi đầu, nhưng không nói gì.

“Hai vị là người phương bắc phải không?”

“Vâng, chúng tôi từ Hoa sơn đến.”

“Ồ.” Văn sĩ áo trắng nói, “Nhưng nghe giọng hai vị lại giống người phương nam.”

“Ừm, cụ nhà tôi nguyên quán Hợp Châu4, xưa kia sống ở Giang Nam một thời gian, nhưng đã dừng chân ở phương bắc hơn hai mươi năm rồi.”

Bạch Phác xoa tay: “Phương bắc là nơi bọn Hồ Lỗ hoành hành, các hạ sống cùng Di Địch mà không quên khẩu âm Đại Tống thì thật đáng phục, lại thêm lệnh lang cũng vẫn nói giọng Giang Nam, thực là hiếm có!”

Lương Thiên Đức rùng mình, suýt làm đổ rượu ra áo.

“Bố,” Văn Tĩnh vỡ lẽ: “thì ra bố không cho con nói cái tiếng nhũn nhẽo uốn éo ấy là vì thế.”

“Ăn đi!” Lương Thiên Đức trừng mắt nhìn. Văn Tĩnh sợ hãi cắm mặt xuống và cơm.

“Chẳng hay tình hình phương bắc ra sao?”

Lương Thiên Đức im lặng. Văn Tĩnh cướp lời: “Bọn Thát rất tồi tệ, coi người Hán như cỏ rác, gần đây còn bắt người Hán sung quân, bố tôi tức giận, mới dắt tôi trở về Đại Tống.”

“Ồ.” Bạch Phác liếc Lương Thiên Đức.

“Giờ thì tốt rồi, lần này trở về, không sợ bị bọn Mông Cổ hà hiếp nữa… nhưng mà, nhưng mà còn bao nhiêu bà con ở lại đó, sống rất khổ.” Văn Tĩnh buồn thiu.

“Ừ, di dân lệ tận Hồ trần lí, nam vọng vương sư hựu nhất niên5.” Bạch Phác thở dài.

Lương Thiên Đức cười khẩy: “Cho dù có đọc thêm bao nhiêu câu, cho dù Nhạc Vũ Mục tái sinh, Hàn Thế Trung sống lại, quân đội Đại Tống cũng không đánh được đến phương bắc đâu.”

“Ông nói thế là thế nào!” Nghiêm Cương trợn mắt: “Làm như bọn Mông Cổ ba đầu sáu tay không bằng.”

Lương Thiên Đức cười: “Bọn Mông Cổ thì không có ba đầu sáu tay, nhưng tiểu triều đình Lâm An phần lớn là ba cô sáu bà6.”

“Ông dám sỉ nhục triều đình!” Nghiêm Cương nổi giận.

“Không dám, tôi chỉ khâm phục triều đình Đại Tống, tuyền một lũ quan lại mỏ nhọn nanh dài, nịnh bợ mê hoặc hoàng đế, mà vẫn thoi thóp ngắc ngoải sống được đến hôm nay.”

“Ngươi… nói bậy nói bạ.” Nghiêm Cương đứng bật dậy, mắt toé lửa.

Lương Thiên Đức không nhìn y, vẫn điềm đạm tiếp: “Nghiêm huynh nói đúng lắm. Tôi chẳng qua là một tên thô mãng, chỉ biết ăn nói bậy bạ thôi.”

“Binh lực Mông Cổ đã hùng mạnh như thế mà vẫn ráo riết chiêu binh.” Bạch Phác lộ vẻ ưu tư: “Dã tâm diệt Tống của Mông Ca Hãn7 thực đáng sợ!”

“Diệt Tống?” Văn Tĩnh ngừng đũa, nhìn Bạch Phác.

“Ừ!” Bạch Phác nói: “Quân Thát chia làm hai cánh, do hoàng đế Mông Ca và em hắn là Hốt Tất Liệt dẫn đầu đã sẵn sàng chiến đấu, sắp tấn công xuống đây rồi! Em không biết ư?”

Văn Tĩnh nghi hoặc nhìn cha: “Đại Tống có binh tướng chứ?” Gã hỏi.

“Hừm… tất nhiên là có.”

“Thế thì được rồi, thuyết thư tiên sinh8 từng nói, binh đến đã có tướng ngăn, nước tràn thì đắp đê chặn, đánh lui bọn Thát là ổn thôi.” Văn Tĩnh dương dương tự đắc, cho rằng mình nói rất đúng.

“Hà, hay cho cái câu binh đến đã có tướng ngăn, nước tràn thì đắp đê chặn.” Đoan Mộc Trường Ca vẫn im lặng nãy giờ chợt lên tiếng: “Từ thời Thành Cát Tư Hãn đến nay, mấy chục năm rồi Mông Cổ chưa thua trận lần nào; còn Đại Tống, từ thời Ngu Doãn Văn9 phá Kim đến nay, gần trăm năm rồi chưa lần nào thắng trận. Mạnh yếu ra sao, khỏi nghĩ cũng biết, cháu nhỏ nói thế là quá vô căn cứ đấy.”

Văn Tĩnh đỏ mặt, ngoảnh đầu nhìn đi chỗ khác, bỗng thấy nơi khuất tối ở mặt tường phía nam có một bức Thái Bạch hành ngâm đồ10, bên dưới đề hai mươi dòng bài Thục Đạo Nan theo lối cuồng thảo, nét chữ rất độc đáo.

Bạch Phác thấy gã ngắm bức hoạ đến thất thần, bèn hỏi: “Em cũng thích tranh chữ?”

“À… không.” Văn Tĩnh đỏ mặt: “Tôi chỉ cảm thấy bức tranh này rất đặc biệt, tranh và chữ bộc lộ khá mạnh tâm tư của người vẽ.”

Bạch Phác ngạc nhiên: “Em nói thử xem!”

Văn Tĩnh nói: “Bức hoạ tuy chỉ trình bày trên ba thước, nhưng cảnh vật và con người trong tranh tựa như trải trên giấy lụa dài tới muôn trượng. Nói cách khác, người vẽ có sẵn khí độ và bản lĩnh để phóng tay trên một phạm vi rất rộng, nhưng khi đặt bút lại phải giới hạn trong khuôn khổ một tờ giấy xuyến nhỏ. Nét bút toát lên khí phách bất phàm khó tả, tràn ra ngoài bức tranh, như muốn xé rách tất cả con người và cảnh vật, bộc lộ khí thế cuồng dã mạnh mẽ lạ thường, tâm cảnh của người vẽ rất hợp với câu thơ Cổ lai đại tài nan vi dụng11 của Đỗ Công Bộ.”

“Ồ.” Bạch Phác gật gù: “Thực không dám giấu, bức hoạ đó là của thầy ta, dạo xưa người đi qua vùng này, nhân hứng mà vung bút vẽ.”

“Á, lệnh sư thật tài giỏi. Có điều, tôi cảm thấy bức hoạ không những cuồng dã, mà còn hàm chứa một nỗi bi thương rất khó tả…”

“Bi thương?”

“Ừm, lạ thực! Thoáng nhìn thì thật tuyệt diệu, nhưng nhìn kỹ thì thấy chỗ nào cũng có mâu thuẫn, năm bè bảy bối, hoa và cỏ, núi và nước, nước và người, người và chữ, không chỗ nào hoà hợp cả. Khi vẽ bức tranh này, lệnh sư hẳn rất buồn bã, trái tim tan nát.”

“Thầy ta quả đúng là luôn làm những việc khiến người khác khó hiểu.” Bạch Phác lộ vẻ ngạc nhiên, “Nhưng ta tận mắt quan sát sư phụ vẽ, mà không nhận ra những điều như em vừa mô tả, em nắm bắt được cái người khác không nhìn thấy, thực là cao minh.”

“Đâu có, đâu có.” Văn Tĩnh toét miệng cười.

“Thằng lỏi con chỉ giỏi ba hoa chích choè.” Một giọng nói bỗng vang lên bên ngoài quán trọ: “Trả cho mi cái này đây.” Một vệt sáng trắng bắn vào vùn vụt, lao thẳng đến mặt Văn Tĩnh. Lương Thiên Đức vội giơ tay bắt lấy, ai ngờ nó bỗng nhanh hẳn lên. Lão chộp hụt. Phắp một tiếng, vệt sáng đánh thẳng vào mặt Văn Tĩnh.

Lương Thiên Đức cả kinh, biết rõ đốm sáng lao tới mạnh như thế, tất nóng rát, đụng phải thế nào cũng bị thương, Văn Tĩnh trúng đòn thì mười cái đầu cũng bị đánh vỡ. Nào ngờ nhìn kỹ, lại thấy mặt gã chỉ bầm đỏ. “Con không sao chứ?” Lão hỏi.

Văn Tĩnh ngơ ngác, cầm lên một miếng ngọc bài màu trắng, kinh ngạc kêu: “Ối chà! Cái này bị ăn cắp mất rồi cơ mà!” Lương Thiên Đức nghe nói biến sắc, ngoắt đầu xem. Bạch Phác mặt xám như tro tàn. Đoan Mộc Trường Ca mở to mắt, nhìn chằm chằm vào miếng ngọc. Nghiêm Cương đứng bật dậy, la thất thanh: “Cửu Long ngọc lệnh.” nói rồi phóng vút ra ngoài toan đuổi theo. Bạch Phác giữ lại: “Không kịp đâu.” Giọng y run run: “Thầy tôi đấy.” Mọi người giật mình.

“Thủ pháp ném ám khí xa mạnh gần yếu ấy có tên Hổ đầu xà vĩ, là tuyệt kỹ độc môn thầy tôi sáng tạo ra khi đi ngao du khắp nơi.” Ánh mắt y dừng ở Văn Tĩnh: “Nhưng mà, vì sao gia sư nói ‘Trả cho mi’, còn em lại nói ‘bị ăn cắp mất rồi’. Hở, em có thể giải thích cho rõ ràng được không…”

Y chưa dứt lời, Đoan Mộc Trường Ca đã nhướng mày, vươn tay ra, nhanh như chớp nắm lấy mạch môn của Văn Tĩnh. Lương Thiên Đức ngấm ngầm kêu khổ, lại thấy Nghiêm Cương đã đi kiểu con cua ra án ngữ cửa quán. Bạch Phác từ từ đứng lên, vòng tay: “Mong lão tráng sĩ nói cho rõ.”

Lương Thiên Đức do dự. Đoan Mộc Trường Ca cười nhạt: “Lão già không nói thì còn thằng con.” rồi vận kình, Văn Tĩnh đau đớn la lối: “Ông… ôi giời.. vặn tôi… làm gì… ôi ôi.”

“Trước đây mày đã trông thấy miếng ngọc bài này rồi phải không?” lão đanh mặt hỏi.

“Trông thấy… ối dà… thì sao…?”

“Ở đâu?”

“Ối… ông buông tay ra…”

“Nói!”

“Ông buông ra đã… Ôi dà!”

“Còn ngoan cố thì tao sẽ huỷ cánh tay này của mày luôn!”

“Huỷ… ối… tôi cũng không nói…” Văn Tĩnh đau đến trào nước mắt.

“Đồ vô dụng, muốn ra vẻ anh hùng thì đừng có khóc!” Lương Thiên Đức lạnh lùng nói.

“Nhưng… ối dà… lão ấy vặn con đau quá.” Văn Tĩnh nuốt lệ.

“Không ngờ các ngươi lại dùng thủ đoạn đó.” Lương Thiên Đức phất tay áo. “Cũng được, đi theo ta.”

“Sự việc dị thường, xin huynh đài chớ trách.” Bạch Phác tỏ vẻ rất lấy làm tiếc.

“Hừ!” Lương Thiên Đức sải bước thật nhanh ra cửa.

Toán người gấp rút đi. Đến trước Thần Tiên độ, Lương Thiên Đức thình lình đứng lại, thở dài, “Chính chỗ này đây.” Lão trỏ về phía xa, nói với ba người đang đứng nghệt mặt như ngỗng ỉa sau lưng. Trên quãng trống, cây cối xác chết vẫn y nguyên, tựa hồ chưa hề có ai đến. Im lặng. Nấc. Nghiêm Cương bỗng ngã khuỵu, phủ phục bên thi thể người thanh niên nọ. Bạch Phác và Đoan Mộc Trường Ca cũng quỳ xuống, lệ tuôn lã chã.

“Gã đó là thế nào với bọn họ vậy? Khóc thảm thiết quá!” Văn Tĩnh nắn bóp chỗ cổ tay bị nhéo đỏ bầm.

“Chắc là chủ nhân!” Lương Thiên Đức nói.

“Sao bố biết?”

“Hừ!” Lương Thiên Đức cười nhạt: “Con có hiểu nghĩa mấy chữ viết trên ngọc bài không?”

“Trẫm… là hoàng đế tự xưng, à, nghĩa là cũng như chính hoàng đế ngự giá đến.” Văn Tĩnh sực hiểu.

“Miếng ngọc ấy là tín vật của khâm sai đại thần, cầm nó là có quyền sinh quyền sát. Ai được hoàng đế Đại Tống tín nhiệm thì mới được ban tấm lệnh bài đó, người chết này lai lịch không đơn giản đâu.” Lương Thiên Đức tức giận nhìn Văn Tĩnh: “Kẻ kia nói ‘trả cho mi’ nghĩa là sao?” Văn Tĩnh trố mắt, cứng miệng, chợt thấy Bạch Phác đứng lên, rỏ lệ ca: “Thân kí tử hề hồn dĩ linh, hồn phách nghị hề vi quỷ hùng12…” Lời ca hoà với tiếng gió thu hiu hắt, nghe rất thê lương.

“Y nói gì thế?” Lương Thiên Đức ngơ ngác, buột miệng hỏi.

“À, đấy là lời hát trong Quốc Thương của Khuất Nguyên, ý rằng: tuy người đã chết rồi, nhưng tinh thần vẫn trường tồn; hồn phách người còn đấy, được xưng tụng là anh hùng trong các linh hồn.”

“Nếu mày luyện võ cũng chăm chỉ như đọc sách thì công phu đâu đến nỗi què quặt như vậy.” Lương Thiên Đức trừng mắt bảo. Hai cha con đang nói chuyện, bỗng thấy Đoan Mộc Trường Ca nhảy lên, hai nắm tay như hai luồng gió đánh tới.

Lương Thiên Đức không kịp đỡ đòn, cũng chẳng kịp nghĩ ngợi gì, lộn mình lăn lại sau. Văn Tĩnh thô lố mắt, đứng bất động, áo và tóc bị kình phong thổi bay dạt. Chưởng nọ đánh tới thực mạnh. Xem chừng lần này, gã thiếu niên không chết cũng bị thương.

Xảy cái một luồng gió vút từ bên cạnh lại, va chạm với chưởng lực của Đoan Mộc Trường Ca, kêu răng rắc, kình phong tản đi. Lương Thiên Đức đứng gần đấy cũng cảm thấy rát mặt.

Đoan Mộc Trường Ca giật lui mấy bước liền, nhận ra là Bạch Phác, mặt mày ngơ ngác.

“Đoan Mộc tiên sinh? Vì sao hành động như vậy?” Bạch Phác đứng án trước mặt Văn Tĩnh, chậm rãi hỏi.

Đoan Mộc Trường Ca hầm hầm: “Hai tên này biết thiên tuế gặp nạn ở đây mà vừa rồi lần chần không chịu nói, rõ ràng là mưu đồ ám muội.” Bạch Phác nhíu mày, chăm chú nhìn cha con họ Lương.

Cơn phẫn nộ qua đi, Lương Thiên Đức ngấm ngầm kinh ngạc. Võ công của Đoan Mộc Trường Ca đã rất ghê gớm rồi, nào ngờ Bạch Phác xuất thủ còn lợi hại hơn nữa, cử động nhẹ nhàng mà khí lực rất nặng, lão nhủ thầm việc đã đến nước này, không nói rõ ràng, ắt khó thoát thân. Lương Thiên Đức đang ngẫm nghĩ, bỗng nhận ra Văn Tĩnh vẫn đờ đẫn ngớ ngẩn thì rất kinh ngạc: “Nó bị chưởng lực đả thương rồi chăng?” liền cất tiếng gọi to: “Thằng khốn kiếp kia không sao chứ?”

“Bố gọi con?” Thằng khốn kiếp như tỉnh cơn mơ.

“Mày… mày…” Lương Thiên Đức thấy con vẫn bình thường, tức giận quát tháo: “Sao mày đứng đực ra đấy?”

“Hà, con vừa mới đoán được ý tứ trong lời ca của Bạch tiên sinh. Khi Khuất đại phu viết bài thơ này, nước Sở đang liên tiếp thua trận, sắp diệt vong tới nơi. Quốc Thương là bài ai điếu những chiến sĩ hi sinh nơi sa trường, chiếu theo đó, người trẻ tuổi này có lẽ cũng bỏ mạng vì nước! Chẳng biết đúng hay sai?”

Nghe vậy, Lương Thiên Đức siết nắm tay thật chặt, toàn thân run lên. Văn Tĩnh từ nhỏ đã hiếu văn không hiếu võ, tối ngày chạy sang nhà Huyền Âm đạo sĩ - bạn sống chết của cha, lão này kinh thư một bụng, nhà chứa đầy sách - miệng thì bảo là học võ, kỳ thực toàn học văn. Lương Thiên Đức dạy gã võ công, gã chỉ tuế toá cho qua, nhưng hễ cầm sách lên thì quên ngủ bỏ ăn, cứ ôm sách là thẫn thờ nhìn trời, bị cha bạt tai vẫn lơ mơ không tỉnh. Hôm nay gặp lúc gấp gáp thế này mà gã vẫn phát bệnh cũ, bảo sao ông bố không tức giận cho được.

Ba người kia nghe vậy, sáu mắt cùng đổ dồn vào Văn Tĩnh, nhìn chòng chọc đến mức khiến gã dựng tóc gáy. Hồi lâu, Đoan Mộc Trường Ca lắc đầu: “Không giống, thằng ranh này ngớ nga ngớ ngẩn, không phải là giả vờ đâu.” Văn Tĩnh bị cha mắng quen tai, cũng không phản ứng gì. Lương Thiên Đức nghe thấy chán nản, trừng mắt lườm thằng con một cái.

“Thực ra, nếu Đoan Mộc tiên sinh chịu khó xem kỹ những dấu vết trên đất, sẽ biết hung thủ chỉ có một người.” Bạch Phác nghiêm mặt: “Hừm, hai cha con nhà này thì làm gì có bản lĩnh đó?”

Văn Tĩnh thầm kinh ngạc: “Ông ta cũng nhận ra.”

Đoan Mộc Trường Ca chăm chú quan sát, bàng hoàng tỉnh ngộ: “Đúng. Lão phu sống già nửa đời người mà chưa gặp cao thủ nào lợi hại như vậy, chẳng biết lai lịch ra sao?” Bạch Phác cau mày trầm ngâm.

“Vả chăng,” Đoan Mộc Trường Ca lại nói, “Để đề phòng bất trắc, lần này thiên tuế đã dùng kế minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương, cho đại quân đi đường thuỷ qua Tam Hiệp, bản thân mình thì theo đường bộ vào Xuyên. Vì sao hung thủ biết rõ mà chặn đúng hướng?”

Bạch Phác gật đầu, giọng hối hận: “Rất ít người biết việc này, chỉ e ba chúng ta cũng khó tránh khỏi liên đới. Ôi, nếu biết trước, ta nên ở cạnh vương gia mới phải…”

“Tôi xưa nay rất khâm phục công phu của Bạch tiên sinh. “Nghiêm Cương bỗng lạnh lùng lên tiếng: “Võ công của lệnh sư chắc còn ghê gớm hơn nữa?”

Bạch Phác sững người, mặt sa sầm: “Nghiêm huynh có ý gì vậy?”

Nghiêm Cương im lặng cười khẩy.

Đoan Mộc Trường Ca nhíu mày: “Bạch tiên sinh! Vì sao Cửu Long ngọc lệnh lại nằm trong tay lệnh sư?”

Bạch Phác cười nhạt, bỗng lắc mình, lao vào Đoan Mộc Trường Ca, vung tay phải chụp tới. Đoan Mộc Trường Ca cả kinh, ra chiêu Thiết môn thuyên13, hoành tay chặn lại, nào ngờ Bạch Phác chụp tới rất nhanh, nhanh hơn lão mười mấy lần, thoắt một cái đã áp sát lại, Đoan Mộc Trường Ca chỉ thấy hoa mắt, ngực đã bị tóm chặt.

Nghiêm Cương nổi giận. Y có ngoại hiệu là Bát tý đao, cách dùng đao rất kỳ quái, chẳng rõ cử động thế nào, đã thấy một vệt trắng mờ lướt xéo về phía Bạch Phác. Bạch Phác né mình, phất tay áo, gác lên sống đao, vừa đẩy vừa kéo. Nghiêm Cương hổ khẩu chấn động, suýt tuột mất đại đao, đang định vận kình để đoạt lại, hữu chưởng của Bạch Phác đã tức tốc thò ra khỏi tay áo, ấn lên thân đao. Chưởng lực nặng nghìn cân đè trĩu xuống. Nghiêm Cương thấy cánh tay tê dại, trừng trừng nhìn Bạch Phác thu tay áo về, mang theo cả đại đao của y.

Ngần ấy động tác chỉ diễn ra trong nháy mắt. Mọi người nín thở, không khí lặng ngắt. Gió núi quạt lên quần áo họ lật phật.

“Các ngươi có thể nghi ngờ Bạch Phác này, chứ không được lăng nhục sư tôn ta, ta không khách sáo đâu.” Khuôn mặt lạnh lùng, Bạch Phác từ từ thả lỏng Đoan Mộc Trường Ca, phất tay áo, đại đao hoá thành một vệt sáng, lao thẳng tới vách núi, cắm gần lút đá sau một tiếng keng.

Đoan Mộc Trường Ca và Nghiêm Cương tuy biết Bạch Phác bản lĩnh cao cường, nhưng không ngờ y lợi hại đến mức ấy, bất giác đưa mắt nhìn nhau, trái tim lạnh buốt đi.

“Không… không thể trách sư phụ của Bạch tiên sinh!” Văn Tĩnh theo dõi tình hình, không kìm được bèn lắp bắp thuật lại sự việc lúc trước, sau đó nhìn Lương Thiên Đức nói: “Hoá ra nho sinh trộm cắp ấy không phải là ma, mà là sư phụ của Bạch tiên sinh!” Lương Thiên Đức tức muốn ộc máu, hằm hằm cho thằng con mấy cái bạt tai như trời giáng: “Còn cần mày phải nói ư! Đồ quỷ tha ma bắt, chỉ giỏi bới chuyện!”

Nghiêm Cương sửng sốt: “Cái gì mà chỉ giỏi bới chuyện? Gặp phải những việc tương tự, lẽ tất nhiên là phải đi báo quan.”

“Báo quan?” Lương Thiên Đức trợn mắt: “Đám quan lại mỏ dài nanh nhọn của Đại Tống, đang yên đang lành còn giỏi vạch lông tìm vết, huống hồ việc tày đình thế này. Nếu không tìm được hung thủ, hừ, cha con ta đừng mơ thoát thân, chưa chừng còn phải chịu tội thay, lão phu đời nào ngốc thế!” Nghiêm Cương nổi giận, toan chửi bới, lại thấy Lương Thiên Đức liếc mắt về phía Cửu Long ngọc lệnh: “Nếu ta không lầm, đó là tín vật quan hệ mật thiết với hoàng gia!” Nghiêm Cương giật thót.

“Đúng!” Đoan Mộc Trường Ca gật đầu: “Các hạ kể cũng tinh tường! Cửu Long ngọc lệnh là binh phù hoàng thượng ban cho thiên tuế, có thể điều động binh mã Xuyên trung.”

Lương Thiên Đức kinh ngạc, cau mày hỏi: “Thật thế ư? Quan trọng đến mức đó sao?” Lão nhìn xác người thanh niên: “Vậy ông ta là ai?”

Bạch Phác cười buồn bã: “Các hạ ở phương bắc, đã nghe đến đại danh của Hoài An vương bao giờ chưa?”

Lương Thiên Đức sửng sốt biến sắc, thở ra một hơi, không đáp. Văn Tĩnh ngơ ngác hỏi: “Hoài An vương là ai?”

“Em không biết đấy thôi.” Bạch Phác kiên nhẫn giải thích: “Hoài An vương văn võ song toàn, hùng tài đại lược, là một vị hiền vương hiếm có của Đại Tống.” Y nhăn mặt: “Em có hiểu vì sao Đại Tống luôn ở thế yếu khi giao phong với ngoại tộc không?” Văn Tĩnh lắc đầu, bụng bảo dạ: “Điều ấy thì can hệ gì tới tôi?” Bạch Phác chán nản, nói như trút tâm sự:

“Đại Tống binh lắm lương nhiều, theo lý mà nói lấy thịt đè người, chưa chắc đã thua bọn Thát. Nhưng thuở khai quốc, Thái Tông hoàng đế muốn đề phòng đại tướng nắm giữ quá nhiều binh hùng tướng mạnh, đe doạ vương quyền, nên mượn chén rượu tập hợp lực lượng14, đoạt lấy quyền điều binh của các võ tướng. Từ đó trở đi, triều đình Đại Tống trọng văn khinh võ, quan võ bị kiềm thúc áp chế đủ điều, quan văn bành trướng thế lực, nếu văn võ tương tranh, phần thua thiệt tất nhiên thuộc về quan võ. Đại tướng thống lĩnh binh mã ở bên ngoài nhưng thường xuyên bị triều đình điều khiển, không thể nào thi triển được sở trường, ngay như Nhạc Vũ Mục tuy rất tài giỏi mà vẫn bị mười hai đạo kim bài đoạt lấy quyền bính, cuối cùng chết thảm bởi tay Tần Cối. Có thể nói, không phải do bọn Thát lợi hại, mà do Tống triều không có đại tướng đủ quyền cầm binh.”

Bạch Phác nói tới đây, thở dài: “Đáng tiếc hiện tại ngoài Hoài An vương, không còn ai hiểu được đạo lý này cả.” Văn Tĩnh nghe xong nghệt mặt ra, Bạch Phác tiếp:

“Mấy năm nay, thiên tuế vất vả chèo chống, tướng lĩnh biên ải phần lớn đều được người bảo vệ và tiến cử, bọn Thát nhiều lần xâm phạm bờ cõi, cũng lại thiên tuế ra đứng đầu sóng ngọn gió, đánh lui cường địch. Lần này quân Mông Cổ rầm rộ tiến vào, thiên tuế không muốn ngồi trông Lâm An, cương quyết đến Thục tự mình đốc chiến, nào ngờ bị đám đối đầu trong triều mè nheo, nhất thời không thể nắm được đại quyền điều binh, vì vậy mới lệnh cho ba chúng ta mang thư tay của người vào Xuyên trước, dò la tình hình, một là đề ra sách lược cự địch, hai là yên ủi lòng quân, ba…” Bạch Phác nói đến đây, bất giác tắc họng, thầm nghĩ: “Thực ra thiên tuế muốn thừa cơ hội này nắm quân đội, đoạt đế vị. Ôi, nếu không phải người phái ba chúng ta vào Xuyên hành động, kết hợp các biện pháp vừa mềm dẻo vừa cứng rắn, thúc giục đại tướng Xuyên trung dâng tấu mời đích danh thiên tuế tới đốc chiến, thì làm sao lãnh được quyền điều binh. Người hành trình bí mật thế này, cốt đề phòng phe đối đầu gia hại, nào ngờ…” nghĩ tới những âm mưu toan tính, y bất giác thở dài: “Em có biết ai là kẻ đối đầu với thiên tuế không?”

Văn Tĩnh nghe hỏi, ngơ ngác nhủ bụng: “Tôi biết thế quái nào được.” Bạch Phác cũng không mong gã trả lời, lẩm bẩm một mình: “Kẻ ấy vai vế nào phải tầm thường.” Y sầm mặt, thở hắt ra: “Đương kim thái tử!”

“Thế thì là hoàng đế tương lai rồi còn gì?” Văn Tĩnh nghe xong giật thót.

Bạch Phác cười nhạt: “Thái tử không hài lòng vì hoàng thượng tin yêu Hoài An vương, sợ ảnh hưởng đến ngôi vị mai sau, sợ ngai vàng bị đoạt mất, vì vậy đi câu kết với bè lũ gian thần, tối ngày chống đối thiên tuế. Thiên tuế bình sinh lắm mưu nhiều kế, bọn đó không phải là đối thủ, nhưng nếu để bọn chúng biết tin dữ này, tất nhiên sẽ ồ ạt tiêu diệt hết những người không cùng phe, tướng lĩnh tiền tuyến đều do một tay thiên tuế dìu dắt, đến lúc đó mọi người khó tránh khỏi nguy hiểm, tâm trí đâu mà dồn sức đánh Thát nữa?”

“Bọn đó không đếm xỉa gì đến sự tồn vong của quốc gia hay sao?” Văn Tĩnh ngạc nhiên.

“Nếu bọn chúng nghĩ được như thế, Nhạc Vũ Mục đã không chết oan khuất trong Phong Ba đình.” Bạch Phác thở dài: “Em ạ, trên đời không có gì vô liêm sỉ hơn là tranh đoạt quyền lực.” Y nghiến răng: “Vụ huyết án này chắc do tên thái tử chó má kia gây ra đây!”

Đoan Mộc Trường Ca đằng hắng: “Bạch tiên sinh, nói như vậy khá nặng nề đấy, ở đây không sao, đến chỗ khác chớ tuôn ra những lời ấy.”

“Sợ cái gì?” Bạch Phác cười thảm thiết: “Ngoài thiên tuế ra, triều đình còn ai đáng để ta kính trọng? Thiên tuế đi rồi, Bạch mỗ hết vương vấn, không muốn tiếp tục quỵ luỵ nhún nhường triều đình Đại Tống đổ nát kia nữa.”

“Nói năng kiểu gì vậy?” Nghiêm Cương hầm hầm thét: “Nguy hiểm ở ngay trước mắt, không nghe lệnh vua, không dốc sức vì nước, chẳng lẽ cứ giương mắt nhìn bọn Thát đến làm càn hay sao?”

“Đại Tống hết rồi!” Bạch Phác lắc đầu, thở dài nói: “Tin này truyền đi, tiền phương ắt loạn, nội bộ xung đột, trước vó ngựa sắt vô địch của hoàng đế Mông Cổ, trận này chưa đánh đã biết thắng thua. Mặc kệ các người tự định liệu thế nào, ta chỉ đợi ngày thành vỡ là xông ra, liều mạng với mấy tên Thát cho xong.”

Mọi người nghe vậy đều ủ rũ. Bạch Phác cúi xuống, ôm thi thể Hoài An vương lên: “Chịu ơn tri ngộ của thiên tuế, Bạch Phác chưa báo đáp, hôm nay đành tiễn người một thôi đường.” Nghĩ tới vận nước lâm nguy, bất giác sa lệ.

Văn Tĩnh thấy y buồn khổ, cầm lòng không đậu bèn khuyên giải: “Bạch tiên sinh hà tất nản chí. Mọi người thử suy nghĩ xem, may ra có cách gì chăng.”

“Cách?” Nghiêm Cương cười khẩy: “Thằng nhóc con miệng còn hơi sữa thì hiểu gì?”

Văn Tĩnh đỏ lựng mặt, cãi lại: “Chí khí không phân biệt tuổi tác. Vương gia này cũng lớn hơn tôi bao nhiêu đâu?”

“Khốn kiếp! Mày dựa vào cái gì mà dám so bì với vương gia?” Nghiêm Cương trừng mắt gầm gừ.

Đoan Mộc Trường Ca xua tay: “Thôi đi Nghiêm lão đệ! Chú nhỏ cũng có ý tốt mà!”

Bạch Phác gật đầu liếc Văn Tĩnh, rồi lại liếc gương mặt của Hoài An vương, thở dài. Bỗng y rùng mình, ngẩng phắt đầu lên, nhìn Văn Tĩnh chằm chằm. Gã thiếu niên gai người. Lương Thiên Đức thấy thần sắc y cổ quái, lấy làm lạ, dịch lại gần con trai.

“Đoan Mộc tiên sinh, ông có nhớ năm năm trước hình dáng thiên tuế thế nào không?” Bạch Phác cất tiếng, vẫn ngắm Văn Tĩnh.

“Nhớ chứ!” Đoan Mộc Trường Ca gật đầu: “Nhưng sao?”

“Hơi giống!” Bạch Phác lẩm bẩm: “Nếu …”

Đoan Mộc Trường Ca hướng theo ánh mắt y, chăm chú nhìn Văn Tĩnh, cũng giật mình, ngạc nhiên bảo: “Kỳ thế, ông nói vậy… chẳng lẽ…” Lão quay sang Bạch Phác, vẻ dò hỏi. Bạch Phác gật gù: “Không hổ là Đoan Mộc tiên sinh…”

“Đổi kèo thay cột?” Đoan Mộc Trường Ca nghiêm túc hẳn lên.

“Ừ!” Bạch Phác siết tay, run rẩy: “Lộng giả thành chân!”

Đoan Mộc Trường Ca nói sau một thoáng trầm ngâm: “Được!”

“Các người đang bàn cái gì vậy?” Nghiêm Cương như từ trên trời rơi xuống, thắc mắc hỏi.

Bạch Phác hít một hơi, nhìn y: “Nghiêm huynh, gia đình tính mệnh của ba chúng ta so với thiên hạ Đại Tống, bên nào nặng hơn?”

“Tất nhiên là thiên hạ Đại Tống.”

“Tin thiên tuế mất truyền ra sẽ có hậu quả gì, ông tưởng tượng được không?”

“Ờ… có.”

“Đúng thế đấy. Bạch mỗ thà đánh cược một chuyến, chứ không muốn giương mắt thõng tay nhìn cảnh gia phá nhân vong.”

“Đánh cược?” Nghiêm Cương trố mắt.

“Phải. Đem tính mệnh và gia đình ba chúng ta để cược với giang sơn Đại Tống.”

“Thế là thế nào?” Nghiêm Cương vẫn ngơ ngác.

Đoan Mộc Trường Ca tiếp lời: “Hiện nay đại quân Mông Cổ đã đến sát biên giới, nếu biết thiên tuế mất, lòng quân dao động, đại cục sẽ vỡ. Nay ta cho một người đóng giả thiên tuế, giữ yên nhân tâm là sẽ giằng co được với Mông Cổ, thành công thì tạo phúc cho trăm họ, nhược bằng thất bại, ba chúng ta khó thoát nổi hoạ diệt tộc, cũng chẳng tồi tệ hơn là để mọi việc vỡ lở ngay lúc này. Cân nhắc lợi hại, chi bằng phó thác thành bại cho may rủi, đánh cuộc với số mệnh chúng ta một phen.”

Nghiêm Cương sửng sốt: “Nói sao mà dễ nghe thế, người đâu để đóng giả thiên tuế?”

Bạch Phác và Đoan Mộc Trường Ca cùng trỏ Văn Tĩnh: “Người đấy!”

Văn Tĩnh suýt ngã bổ chửng.

“Đùa kiểu gì vậy?” Nghiêm Cương hộc lên: “Thiên tuế là rồng trong loài người, tuyệt đại phong hoa, nói năng như phun châu nhả ngọc. Thằng ranh con này ngu độn ít thấy, thoáng nhìn đủ biết là một con sên chính cống. Để nó đóng giả vương gia có khác gì đẩy chúng ta vào đường cùng?”

“Ai thèm đóng giả cái gã chết ngủm ấy?” Văn Tĩnh cũng tỏ ra cáu kỉnh.

“Mày gọi ai là gã chết ngủm?” Nghiêm Cương trợn mắt vung nắm đấm. Văn Tĩnh thấp người tránh, nhưng vẫn cãi cố: “Thì chết thật còn gì!”

Nghiêm Cương lửa giận phừng phừng, bước lên quát: “Thằng nhóc, có giỏi nói lại lần nữa xem!” Y sừng sộ như muốn ăn tươi nuốt sống Văn Tĩnh, vừa gào vừa xắn tay áo. “Phải cho mày một trận nên thân.”

“Thôi nào thôi nào, cậu ấy cũng chỉ lỡ miệng thôi.” Bạch Phác vội vàng giảng hoà.

Nghiêm Cương hừ mũi: “Ranh con nhát như thỏ đế, đóng giả vương gia thế quái nào được.”

Văn Tĩnh im thin thít. Bạch Phác liếc gã, húng hắng bảo: “Nhưng ngoại hình của cậu ấy từa tựa vương gia, lại cùng nói giọng Giang Nam, hoá trang thêm là ổn.”

“Nó mà mở miệng thì chí nguy.” Nghiêm Cương nhìn Bạch Phác vẻ hồ nghi.

Bạch Phác nói: “Chỉ cần đừng ở xa quá, tôi khắc có cách dạy cậu ấy ứng phó.”

“Tốt nhất là hạn chế nói năng,” Đoan Mộc Trường Ca đề nghị: “câm nín như tượng Phật trong chùa ấy.”

Nghiêm Cương hiểu ra, vỗ trán: “Ừ nhỉ, nó không nói gì là được rồi.” Y nhìn Văn Tĩnh, hằn học bảo: “Hễ mày gây tiếng động, tao sẽ bẻ gãy cổ ra.”

“Đánh rắm cũng không được à?” Văn Tĩnh lẩm bẩm cãi.

Nghiêm Cương từng luyện ám khí, tai rất thính, nghe thấy rõ mồn một bèn ngang ngược bác bỏ “Đương nhiên không được.”

Văn Tĩnh không chịu nổi, gào ầm lên. “Ồ, sao các người vô lý vậy?”

“Em không đồng ý à?” Bạch Phác tỏ vẻ bất ngờ.

“Không!” Văn Tĩnh dứt khoát.

“Vì nước vì dân mà!”

“Bố con tôi chủ đích muốn về quê làm ruộng. Hơn nữa tôi cũng không biết đóng vai thiên tuế vạn tuế gì đâu.” Văn Tĩnh vừa nói vừa nghĩ: “Nghe bàn đã đủ sợ rồi, gan đâu mà làm. Đầu óc mấy người này có vấn đề à?”

Bạch Phác không để ý đến gã nữa, mỉm cười hỏi: “Tôi chờ nghe ý kiến của Lương lão tráng sĩ.”

Lương Thiên Đức ngửa mặt nhìn trời, lặng im không nói.

Văn Tĩnh chắc mẩm. “Bố vốn non gan nhát chết, đời nào bằng lòng.”

Lương Thiên Đức nghiêm mặt, nhìn bầu trời u ám, thở dài, “Hai mươi năm rồi!” Lão thì thầm: “Trăm phương nghìn kế, trốn chạy khắp nơi, cuối cùng vẫn không thoát được!”

“Hai mươi năm? Bố đang nói gì thế nhỉ?” Văn Tĩnh thầm nghĩ: “Mà thôi mặc kệ, chỉ cần bố không đồng ý với bọn họ là được.”

“Hai mươi năm?” Đoan Mộc Trường Ca chăm chú nhìn lão hồi lâu, bỗng buột miệng hỏi: “Lương huynh… có phải là Lương Mộ Đường thích sát Đinh tướng quân, liên đới cả nhà chịu tội năm xưa đấy không?”

“Sao ông biết?” Lương Thiên Đức hoảng kinh thất sắc, lập tức đề phòng, bước giật lui, vận khí.

“Quả thực vật đổi sao dời, chẳng ngờ lại gặp ‘Tái Do Cơ’ ở đây!” Đoan Mộc Trường Ca xoa tay thở dài. Lương Thiên Đức thấy lão gọi ra ngoại hiệu trước kia của mình, kinh ngạc vô cùng, muôn mối xúc cảm đan xen, bất giác thả lỏng nắm tay. Đoan Mộc Trường Ca lại nói: “Năm xưa tôi đã từng gặp tiên sinh ở Lâm An.”

Lão đổi cách xưng hô, từ ‘tráng sĩ’ thành ‘tiên sinh’: “Tiên sinh thống lĩnh cấm quân, tinh thông binh pháp, tài bắn cung cưỡi ngựa vào bậc nhất thời ấy. Những năm Đoan Bình, khách bắn điêu Mông Cổ ghé thăm, tiên sinh cưỡi ngựa chạy xa hơn năm trăm bộ vẫn bắn xuyên tâm đồng tiền, thực khiến người đời kinh ngạc. Lúc ấy tại hạ chính mắt chứng kiến thần uy, hai mươi năm rồi vẫn như vừa trông thấy.” Bạch Phác và Nghiêm Cương nghe xong cùng ngạc nhiên, chú mục nhìn Lương Thiên Đức, thầm nghĩ: “Người này mà lợi hại thế sao?”

Lương Thiên Đức kinh ngạc vô cùng: “Trí nhớ các hạ tốt thật đấy.”

“Đâu có.” Đoan Mộc Trường Ca nói: “Hồi ấy danh tiếng của tiên sinh quá lừng lẫy!” Nói tới đây, lão mỉm cười: “Xạ thủ Mông Cổ đâu phải tầm thường, thế mà tiên sinh thắng được, thực ghê gớm!”

“Bố, bố giỏi đến vậy à?” Văn Tĩnh không kìm được xen vào: “Sao chẳng dạy con gì cả!”

Mọi người đang tưởng tượng khí thế của Lương Thiên Đức ngày ấy, bỗng nghe thấy Văn Tĩnh kêu lên như vậy, cùng nghĩ thầm: “Hổ phụ khuyển tử. Thằng nhóc này chẳng xứng với dòng dõi chút nào.”

“Mày có chịu học cho tử tế bao giờ đâu?” Lương Thiên Đức giận sôi: “Công phu căn bản còn luyện tập nhăng nhít. Nhìn hai cánh tay mày xem, có tý sức lực nào không? Giương cánh cung bốn thạch15 cũng không nổi, bảo ta dạy sao được?”

“Nói cũng đúng.” Văn Tĩnh ngẫm nghĩ.

“Thế thì… chắc bố không để con phải đóng Hoài An vương gì gì ấy chứ?”

Bạch Phác ôm quyền: “Lương tiên sinh trung thành can đảm, Bạch mỗ tin rằng ông không từ chối.”

Lương Thiên Đức im lặng chốc lát rồi ôn tồn nói: “Trung thành can đảm thì không dám, nhưng việc này, chẳng may không gặp thì thôi, đã gặp rồi, Lương mỗ khó mà rủ tay đứng nhìn.” Văn Tĩnh nghe thấy sởn da gà, hoa mắt váng đầu, tay chân bủn rủn.

“Đáng tiếc, con tôi từ nhỏ đã ngây ngô, thực khó đảm đương nổi trách nhiệm nặng nề ấy.”
Văn Tĩnh hớn hở, ưỡn thẳng người lên: “Đúng đấy, đúng đấy. Tôi chả nói rồi còn gì, tôi không đóng nổi Hoài An vương đâu.”
“Song,” Tim Văn Tĩnh lại hẫng một cái. Lương Thiên Đức chăm chú nhìn gã, tự nhủ: “Năm xưa ta hận nịnh thần nắm quyền xu phụ ngoại tộc, nhất thời phẫn uất giết chết tướng quân đương triều, đến nỗi cha mẹ vợ con gặp nạn, may nhờ Huyền Âm giúp đỡ, vớt lại được đứa bé này. Vốn muốn để nó xa hẳn những chuyện thị phi nên rút mình vào vỏ ốc, tránh hết mọi sự ồn ào, nào ngờ vẫn phải đối mặt với những việc can hệ đến trăm họ và xã tắc, muốn trốn cũng không trốn nổi nữa… đúng là số kiếp.” Nghĩ tới đây, lão nói:
“Lương mỗ cũng không phải kẻ yếu hèn máu lạnh, năm xưa vì thiên hạ Đại Tống, giết chết nịnh thần, là đã gạt hẳn chuyện gia đình tính mệnh sang một bên. Nay tuy biết khuyển tử vô dụng, khó đảm đương nổi trọng trách, nhưng ba vị đã nghĩ cho lê dân, dám đem thân gia tính mạng đặt cược vào thằng bé ngốc này, Lương mỗ là cha nó, đâu dám co vòi rút cổ, sợ sệt như đàn bà.” Văn Tĩnh ngây đuỗn, muốn khóc mà không ra nước mắt. Lương Thiên Đức nhìn gã, ngậm ngùi bảo: “Làm khó con rồi!”
“Bạch mỗ quả không nhận lầm người!” Bạch Phác đưa đẩy.
“Tôi xin kết bằng hữu với Lương huynh.” Giọng lệnh vỡ của Nghiêm Cương vang xa khắp núi vắng.
“Đúng đó.” Đoan Mộc Trường Ca vuốt râu mỉm cười.
“Không làm, con không làm.” Văn Tĩnh dậm chân phản đối: “Con không làm gã thiên tuế chết toi kia đâu.”
“Chẳng phải là tại mày sao?” Lương Thiên Đức xạm mặt: “Mày tự chuốc vạ vào thân, đại trượng phu dám làm dám chịu chứ!”
“Con không muốn làm đại…” Văn Tĩnh chưa nói hết, đã bị tát một cái như trời giáng, đau hoa cả mắt, lệ chảy dài.



Được chỉnh sửa bởi quynhmi on 29 Aug 09 01:11

Tài sản:


[Xem tất cả tài sản]
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
quynhmi
bài viết 29 Aug 09 01:15
    Gửi vào: #3
Ông Trùm Thành viên thứ: 242878 Tiền mặt: 98917050
Group Icon Tham gia: 1-March 09 Được cám ơn: 83
Nhóm: Members Bài viết: 1113 No Yahoo Messenger
Chương 2

Số kiếp truân chuyên




Núi hiểm trở do trời cao dựng,
Đất Kiếm Môn hùng tráng thế gian.
Núi liền giữ chặt Tây Nam,
Hướng Bắc sừng sững đá làm bình phong.
Hai vách núi nhìn trông cao ngất,
Tự tạo nên thành quách tự nhiên.
Một người khoẻ giữ cửa quan,
Quân dù trăm vạn, đừng bàn vào đây.[1]
Ráng hồng yếu ớt trồi lên ở phương đông, in nổi hình Kiếm Môn. Hai ngọn núi như trường kiếm Ỷ Thiên trỏ thẳng lên trời, trên cao dày đặc mây đen.

“Tiếng gì thế nhỉ?” Tướng giữ Kiếm Môn là Trương Hà choàng dậy, nghiêng tai lắng nghe âm thanh ì ầm nơi xa.
“Tiếng móng ngựa ở đại bản doanh Lục Bàn sơn.” Lính canh cửa nói: “Quân Mông Cổ bắt đầu thao luyện ca sáng.”

Trương Hà khoác áo, đẩy cửa ra, gió sớm lạnh giá thốc vào mặt khiến y rùng mình. Nhìn về phương xa, đèn đuốc doanh trại Lục Bàn sơn chiếu rực một góc trời, Bắc Đẩu thất tinh cũng phải mờ đi.

oOo

“Ê, sắp xong chưa?” Lương Thiên Đức quát to.

“Sắp rồi sắp rồi, chừng nửa canh giờ nữa.” Từ trong rừng, tiếng Văn Tĩnh vọng ra.

“Vớ vẩn thật.” Lương Thiên Đức tức giận: “Đời thủa nhà ai lại có người đi đồng mất những một canh giờ không?”

Đoan Mộc Trường Ca sa sầm nét mặt: “Càng không có ai một ngày đại tiện đến sáu lần.”
“Nó cố ý đấy.” Nghiêm Cương nghiến răng nghiến lợi nói thẳng thừng.
“Quả vậy.” Bạch Phác nhủ bụng.
Lương Thiên Đức sốt ruột bảo: “Mày mà không ra ngay là ta vào.”
“Chớ.” Văn Tĩnh kêu lên: “Ở đây có bãi phân to tướng, khó ngửi lắm.”
“Hừ.” Lương Thiên Đức vùng bước đến.
“Xong rồi xong rồi.” Thấy cha hùng hổ tiến tới, Văn Tĩnh đành kéo quần lên, lững thững đi ra khỏi rừng, nói vẻ bất mãn, “Sách thuốc có dạy: chất bã sinh độc, đi đồng mà không đi hết là bị trĩ đấy.”

“Rốt cuộc mày đang toan tính gì vậy?” Nghiêm Cương méo xệch miệng: “Thoạt tiên thì nói không biết cưỡi ngựa, không sao, học vậy, nhưng chó má thật, một người luyện võ mà học cưỡi ngựa mất bao nhiêu thời gian. Kế đó dọc đường, lúc đòi đi nặng lúc đòi đi nhẹ, bài tiết nhiều hơn cả trâu bò. Quỷ tha ma bắt, quãng đường độ hai canh giờ mày kéo dài cả ngày trời luôn, từ đây đến Kiếm Môn quan còn những hai trăm dặm nữa!” Y nhìn bóng tịch dương phía xa, bụng bảo dạ: “Nếu không nể mặt ông già mày thì tao đập chết mày rồi, thằng khốn kiếp!”

“Dù thúc ngựa chạy nhanh cũng không đến được Kiếm Môn quan trước lúc chập tối.” Bạch Phác nói: “Chi bằng chúng ta tìm nơi nghỉ ngơi, mai lại tiếp tục lên đường.”

“Hay, hay lắm.” Văn Tĩnh vỗ tay reo.
“Hay cái con khỉ.” Nghiêm Cương hằm hằm nhìn gã, bảo Bạch Phác: “Cách đây hai mươi dặm có trấn Hề Cốc, dừng chân nghỉ được.”
“Đi thôi.” Bạch Phác thở dài.

Năm người thúc ngựa chạy về phía tây. Ven đường, núi non hiểm trở chất ngất, chặn đứng luồng gió từ phương bắc thổi xuống phía nam. Trên phương bắc, cây cối đã điêu linh tàn úa từ lâu, nhưng ở vùng quan ngoại này cỏ vẫn trải dài, cây xanh mọc thành hàng, tiếng chim líu lo, cảnh vật có hơi hướm của ngày hạ.

Khi vào trấn Hề Cốc, trời đã nhá nhem. Đúng như tên gọi, thị trấn này toạ lạc trong một sơn cốc, hơn trăm nếp nhà san sát, một lá cờ hạnh hoàng tửu nổi bật trên dãy ngói xanh.

Năm người yên vị, Nghiêm Cương gọi: “Tiểu nhị! Rượu ngon đồ nhắm mang hết ra đây.”

Tiểu nhị tinh mắt, nhận thấy những người khách này không phải tầm thường, bèn cười mơn: “Ra ngay ra ngay.” rồi thắp đèn cho họ. Văn Tĩnh nhìn quanh, thấy trong quán chừng bảy tám bàn đã có khách ngồi. Bàn ngay cạnh đấy là một nam một nữ. Nam tuổi ngoài hai mươi, mũi chim ưng mắt sâu, mặc áo đen thui, mắt nhìn thẳng ra phía trước, khuôn mặt lạnh lùng, bên tay phải đặt một bao lụa đen tuyền dài và hẹp, không rõ chứa vật gì. Người con gái thì chỉ nhìn được sau lưng, mặc áo dài xếp nếp thêu hoa, trông rất duyên dáng, mái tóc đen nhánh cuốn lên bằng một cái vòng vàng, để lộ cần cổ trắng ngần.

“Các vị đại gia, đây là đặc sản của quán chúng tôi.” Tiểu nhị bưng ra một cái liễn sứ trắng, mỉm cười nói: “Tên là Tuý lí hoành hành.”

Nó mở liễn, mùi rượu thơm đê mê xộc vào mũi Văn Tĩnh. Trong liễn có khoảng chục con cua to đỏ ửng.

Đoan Mộc Trường Ca phì cười: “Đây là cua hấp rượu chứ là gì đâu? Sao đặt tên phong nhã thế.”
“Món này ngon không…” Văn Tĩnh ngẩn người, như thể lần đầu trong đời được ăn cua.
“Quý khách chắc cũng biết cua béo nhất vào mùa thu, thời tiết này cua rất nhiều gạch, đúng là lúc thích hợp để ăn.”
“Ồ.” Văn Tĩnh lộ vẻ sợ hãi, không dám động đũa.
“Quý khách cứ thử là biết.” Tiểu nhị vồn vã chào hàng.

Văn Tĩnh nhìn Bạch Phác. Bạch Phác mỉm cười: “Mời thiên tuế dùng trước.” Mọi người đã ước định sẵn, dọc đường gọi Văn Tĩnh là thiên tuế, đề phòng làm lộ bí mật về cái chết của Hoài An vương.

Văn Tĩnh hết cách, đành nhón một con cua, bỏ tọt vào miệng, nhai lạo rạo như đá mài.

“Ừm, ngon, ngoài giòn trong mềm, đúng là rất ngon.” Văn Tĩnh ra vẻ sành sỏi, tuyên bố với đám người đang trố mắt theo dõi.
Lương Thiên Đức thầm than thở: “Quên mất là thằng cu chưa bao giờ ăn cua, thất thố quá thể.”

Chợt nghe thấy một giọng phương bắc lảnh lót cất lên: “Sư huynh! Thì ra còn có thể ăn cua theo cách ấy nữa kia!”

Văn Tĩnh giương mắt nhìn sang, đúng lúc cô gái nọ ngoảnh đầu lại, vừa trông thấy cô ta, mặt gã đỏ bừng lên, tim đập thình thịch.

Người con gái chưa đầy hai mươi, khuôn mặt trái xoan, da trắng phớt hồng, mũi cao dọc dừa, hàng mày cong, đôi mắt to huyền hoặc, lúng liếng ướt át, hút hồn người. Thấy Văn Tĩnh nhìn mình, cô nhếch miệng, nhăn trán, khuôn mặt rạng rỡ. Gã ngốc cũng cười, ngây dại.

“Cô bé đẹp quá.” Bạch Phác thầm nghĩ, “Nhưng vẻ đẹp thực tà quái, con gái trung nguyên không có nước da trắng nhễ nhại với cái mũi cao thế kia, trông giống người Hồ ở Tây Vực hơn.” Nghĩ tới đây, y chú tâm đề phòng.

“Này gã ngốc, sao ngươi cứ nhìn ta mãi thế?” Thiếu nữ cười hỏi Văn Tĩnh. Người áo đen nghe vậy ngoảnh đầu sang, hai luồng mắt như lưỡi dao băng đâm vào mặt Văn Tĩnh. Gã trai giật thót, máu lạnh đi. Người nọ thì ồ lên, mắt thoáng nét kinh ngạc.

Thiếu nữ lại hỏi Văn Tĩnh: “Gã ngốc, cho ta ăn một con cua trong liễn của ngươi được không?”
“Được.” Văn Tĩnh vội đáp rồi chuẩn bị đưa sang. Người áo đen bỗng nói: “Ngọc Linh, đừng gây chuyện nữa, em đã gọi món ấy rồi mà.”
Văn Tĩnh đưa mắt nhìn, trên bàn họ quả nhiên có một cái liễn sứ trắng y hệt, gã bất giác ngớ người ra.
Thiếu nữ bĩu môi: “Nhưng vì sao cua của chúng ta phải lột vỏ, còn cua của họ thì ăn được cả con?”

Văn Tĩnh giật mình, đúng lúc đó thấy Đoan Mộc Trường Ca cũng đang bóc mai một con cua, để lộ lớp thịt trắng trắng hồng hồng, tức thì máu dồn lên mặt, gã chỉ muốn tìm một lỗ nẻ mà chui xuống.

Tiểu nhị vội vã khoả lấp: “Cô nương hiểu lầm rồi, cua thì đúng là phải bóc vỏ mới ăn được, chỉ vì… quý khách đây ăn khác kiểu với mọi người mà thôi.”
“Thế ư?” Thiếu nữ bắt bẻ: “Ta lại nghĩ cua của họ đặc biệt. Ngươi khinh người phương bắc chúng ta nên đem thứ cua khó ăn ra, còn loại ngon lành dành để phục vụ họ chứ gì?”
Tiểu nhị luôn mồm kêu oan, lườm Văn Tĩnh rủa thầm.

Thiếu nữ bước tới gần Văn Tĩnh, không đếm xỉa đến ai khác, nhặt lấy một con cua, ghé vào miệng cắn thử, rồi trở tay tát Văn Tĩnh một cái, quát: “Ngươi là lợn à? Thế này mà cũng ăn được?”

Văn Tĩnh ăn tát, đầu quay mòng mòng, ngồi ngẩn ra, năm dấu ngón tay in rành rành trên má trái. Bốn người kia bàng hoàng tức giận, Nghiêm Cương đập bàn đứng bật dậy thét: “Con nanh nọc kia, ăn của người ta còn đánh người ta, đâu ra cái lối như thế?”

“Ấm ức hả?” Thiếu nữ cười nhạt: “Cô nương đây xưa nay đánh người không cần lề lối gì hết.” Nói chưa dứt lời, cô ta lại trở tay, tát vào mặt Văn Tĩnh cái nữa.
Văn Tĩnh luyện võ đã nhiều năm, tuy công phu chẳng ra gì nhưng lúc nãy trúng bạt tai chỉ vì không đề phòng, lần này thấy cô gái tiếp tục vung tay đến, gã vội bật ngửa người về phía sau.
Động tác của gã rất nhanh, nào ngờ bàn tay thiếu nữ như bóng theo hình, cũng áp sát tới. Sau một tiếng đanh gọn, má phải Văn Tĩnh lại hiện rõ dấu tay. Hai má hai vết, trông thật hoàn hảo.
Nghiêm Cương nổi trận lôi đình, nhún tay xuống bàn, tung mình lên theo tư thế chim ưng bắt thỏ, vượt qua cái bàn bát tiên, vung tay tát vào mặt thiếu nữ.
Thấy bàn tay to tướng của y sắp vỗ tới, thiếu nữ mỉm cười, không né mình, chỉ khum năm ngón tay lại giống hình búp hoa, chầm chậm đưa lên trước ngực.
Nghiêm Cương quăng tay đi nửa chừng, thấy gương mặt thiếu nữ kiều diễm, nhủ thầm: “Cái mặt đẹp này mà hằn dấu ngón tay thì thực là tội nghiệt của ta.” Y chợt mềm lòng, giơ cánh tay lên, biến chưởng thành trảo chụp sang tóc cô gái.

Đúng lúc Nghiêm Cương biến chiêu, năm ngón tay như đoá ngọc lan trắng đã xoè bung ra. Phập một tiếng, nghe bàn tay đau nhói, Nghiêm Cương liền tung chân đá lăng tới. Thiếu nữ phất tay áo, quạt lên mắt cá chân y. Cảm thấy như đá trúng phiến sắt, y bèn lật chân về, làm chiếc bàn bát tiên gãy răng rắc, rồi giơ tay phải lên xem, thấy năm lỗ thủng máu tươi chảy ào ạt, lòng vừa kinh hãi vừa giận dữ.

Thiếu nữ bĩu môi: “Ta định phế cánh tay ngươi cơ đấy, chẳng ngờ ngươi thông minh, biết biến chiêu nửa chừng.”
Nghiêm Cương lã chã mồ hôi hiểu ra, nhờ thương hoa tiếc ngọc, cánh tay y mới không bị huỷ vì năm ngón tay kia xuyên qua.
“Ta tưởng ai?” Nghiêm Cương nghe tiếng, ngoảnh đầu nhìn, thấy Bạch Phác đang chậm rãi đứng lên: “Thì ra là môn nhân ‘Hắc Thuỷ’.”
Thiếu nữ cười: “Ngươi nhận ra công phu của ta à?”
“Như Ý Ảo Ma thủ đúng không?” Bạch Phác điềm tĩnh nói: “Tất nhiên là Bạch mỗ nhận ra.”
Thiếu nữ dảu môi: “Vậy thì nhất định ngươi biết sư phụ ta rồi!”

Bạch Phác gật đầu: “Nước đen2 cuồn cuộn, ngập khắp thiên hạ. Ta biết chứ.” Y vừa dứt lời, trừ Văn Tĩnh, ba người kia

đều biến sắc.
Thiếu nữ vui vẻ nói với người áo đen: “Sư huynh! Sư phụ mình quả thực rất nổi tiếng!”
Người áo đen tỏ vẻ cao ngạo. “Lẽ tất nhiên.”

Thiếu nữ tươi tỉnh nói: “Sư phụ đã dạy, kẻ nào làm mếch lòng chúng ta, phải cho kẻ đó nếm mùi lợi hại. Nhưng thấy ngươi biết đến uy danh của sư phụ, ta tha cho các ngươi lần này!”
Văn Tĩnh buột miệng kêu lên: “Rõ ràng là cô gây sự trước mà!”
“Không phục hả?” Thiếu nữ giơ nắm tay: “Sư phụ đã dạy, hễ muốn thì cứ việc đánh bất cứ kẻ nào trên đời. Nếu ngươi ấm ức, chúng ta lại đấu lần nữa.”
Nói tới đánh nhau, Văn Tĩnh liền nhũn như con chi chi, làu bàu: “Sư phụ cô là hoàng đế chắc!”
Thiếu nữ nói: “Ngay hoàng đế của Đại Mông cổ, sư phụ ta cũng không coi vào đâu.”
Văn Tĩnh nghe vậy, thắc mắc hỏi: “Thế sư phụ cô là thần tiên thượng giới à?”
Thiếu nữ nói át đi luôn: “Cũng gần gần như vậy.”
Bạch Phác cười nhạt: “Chẳng rõ hai vị đến Thục có việc gì?”
“Sư huynh đến giết người, còn ta đi theo xem cho vui…”
Lúc ấy, đám thực khách đã chạy sạch từ lâu, tiểu nhị và chủ quán đang run như cầy sấy nấp sau quầy, nghe tới hai từ ‘giết người’, hồn xiêu phách lạc, vãi cả ra quần.
“Giết người, có phải là giết người ở trước Thần Tiên độ không?” Bạch Phác đổi giọng.

Thiếu nữ lộ vẻ kinh ngạc: “Sao ngươi biết?”
“Há?” Mặt tái xám, Bạch Phác gằn từng tiếng: “Hay lắm!”
Y từ từ quay sang, nói với người áo đen: “Các hạ tính toán chặt chẽ, nhưng đi sai một nước.”
Mắt người kia loé lên lạnh lùng, không nói năng gì, nhìn Văn Tĩnh chằm chằm.
Bạch Phác nói: “Kế đó gọi là lấy mận thay đào, ngươi giết kẻ thế thân mà thôi, đây mới chính là Hoài An vương đích thực.”
Lương Thiên Đức thấp thỏm nghĩ: “Nói thế là dồn Văn Tĩnh vào đường cùng rồi.”
“Ồ!” Thiếu nữ sực hiểu: “Thì ra các ngươi cùng một giuộc với tên vương gia chó chết của nhà Tống kia! Hừ, dám dùng đồ giả để lừa bọn ta.” Rồi hầm hầm nhìn Văn Tĩnh: “Ngươi là cái tên vương gia chó chết đó hử?”
Văn Tĩnh cả kinh, luống cuống đáp: “Tôi không phải là chó, làm sao là vương gia chó chết được?” Thiếu nữ nghe vậy hơi ngẩn người.
“Thế à?” Người áo đen thong thả đứng dậy, lạnh lùng nói: “Bất kể thật giả, giết thêm lần nữa.”
“Ha.” Bạch Phác bật cười: “Các hạ ăn to nói lớn lắm, liệu giết nổi không?”

Thiếu nữ bừng bừng tức giận: “Hừ! Tên thối tha này dám nắn gân ta. Cho ngươi về chầu Diêm vương rồi hãy hay.” Cô ta gẩy một chiếc ghế đẩu lên, đá về phía Bạch Phác. Bạch Phác vỗ bật đi. Thiếu nữ lại phóng tay tới. Biết hai tay cô ta chạm đến người là đứt gân gãy cốt, Bạch Phác lùi ngay lại, giắt cây quạt gấp vào thắt lưng, chém ra một chưởng.

Một chưởng không màu mè ẩn ý gì, nhưng như kiếm đao bạt sóng, lao đi giữa lớp thủ pháp ảo ảnh trùng trùng của thiếu nữ, xả tới vai cô ta.

Cô gái bật cười: “Không ngờ ngươi cũng võ vẽ tí chút.” Hai người cùng phô bày tuyệt kỹ, đấu với nhau một chặp. Song thủ thiếu nữ lúc như thiên ma biến hình, lúc như Phật tổ hái hoa; lúc như tấu khúc đàn tranh, lúc như khảy điệu tỳ bà, biến hoá đột ngột vô cùng, ào ạt như thác đổ, lại kín như bưng trống. Bạch Phác chẳng khác nào một con thuyền nhỏ trong sóng gió bão bùng, vùi dập theo dòng, không chống chỏi được trước thế tấn công ấy.

“Á.” Văn Tĩnh buột kêu: “Bạch tiên sinh thua rồi.”
“Khó nói lắm.” Lương Thiên Đức lắc đầu: “Con nhìn hai tay cô gái, lúc lại gần nhất cũng vẫn cách ông ta một thước.” Lão vừa nói vừa thi thoảng liếc mắt về phía người áo đen, thấy y chắp tay sau lưng, ung dung quan sát trận chiến, bèn nhủ bụng: “Bạch tiên sinh bị cô gái nọ cầm chân, tuy không thua, nhưng nếu người kia thừa cơ tập kích thì chẳng biết sẽ ứng phó thế nào đây.”
Văn Tĩnh nghe cha nói xong, chăm chú quan sát, quả nhiên thấy cô gái tấn công như vũ bão mà cũng chỉ chờn vờn được quanh Bạch Phác đến một thước là cùng, hễ cô ta lỏng tay thì chưởng đối phương lập tức thi triển mạnh hơn, phản kích lại.

Người áo đen nhíu mày hô: “Ngọc Linh cẩn thận! Người đó sử Tu Di Giới tử3 chưởng, có câu Toả ra Tu Di, thu vào giới

tử, em nhất định phải công phá được vòng Giới tử cách một thước quanh mình ông ta mới xong.”

Trong lúc y nói, vòng Giới tử đã nới ra thêm một thước. Thiếu nữ cảm thấy áp lực tăng cao, điều khiển bàn tay khó dần, chiêu thức chậm lại. Thình lình, vòng Giới tử loang rộng, chưởng lực của Bạch Phác tràn ra bốn bề, hoá thành Tu Di khổng lồ, công và thủ tức thì đổi chỗ. Chưa đến mười chiêu, thiếu nữ chỉ còn tấn công làm vì, mất cả sức trở tay, bèn lộn ra, đá cái bàn về phía Bạch Phác, kêu lên: “Tiêu Lãnh, lại giúp em mau!”
Người áo đen đanh mặt: “Sao cô dám gọi thẳng tên ta? Cô phải gọi ta là sư huynh mới đúng!”
“Há, anh có giúp tôi không thì bảo?” Thiếu nữ tỏ ra ngang bướng.
Tiêu Lãnh hừ mũi: “Cô lui xuống đi.”
“Không, chúng ta cùng làm thịt y cơ.” Cô gái ngúng nguẩy.

Bạch Phác chấn vỡ cái bàn, nghe vậy bất giác chùng tay. Thiếu nữ thừa cơ lao tới, tống ra toàn độc chiêu, vừa đánh vừa gọi: “Tiêu Lãnh, anh đánh sau lưng y! Tiêu Lãnh, anh chặt tay trái y! Tiêu Lãnh, anh đá vào mông y…” Bạch Phác hơi phân tâm, liền bị cô gái tấn công cho cuống quýt tay chân.

Nghiêm Cương ngoác miệng chửi. “Cái con đanh đá cá cầy nhà ngươi thật trơ trẽn.”
“Ngươi nói gì?” Tiêu Lãnh lướt ánh mắt sắc như dao lên mình Nghiêm Cương, “Ta vốn không muốn lợi dụng cái khó của người khác, nhưng ngươi dám nhục mạ sư muội, ta không tha được.” Y sải bước về phía Nghiêm Cương: “Tuy nhiên, ta cho ngươi cơ hội đấu một trận đường hoàng. Rút đao ra!” Sát khí y tăng theo mỗi bước chân, mọi người đều chấn động.

Bạch Phác phá lên cười, đẩy dạt thiếu nữ ra, lắc mình đến đứng án trước mặt mọi người, ung dung phẩy quạt bảo: “Đối thủ của các hạ là Bạch mỗ đây.”
Thiếu nữ chống nạnh gọi: “Ê, chúng ta chưa đánh xong mà!”
Bạch Phác mỉm cười: “Cô muốn giúp sư huynh đấy thôi! Hai người cùng lên một lượt đi.”
“Được!” Cô gái tươi tỉnh nói: “Ngươi tự chuốc vạ vào thân, đừng oán chúng ta nhé.” Nói rồi hăm hở tiến đến.
Mọi người thầm nghĩ, “Ả này thật rắc rối.”
Người áo đen lắc đầu: “Ngọc Linh, đừng xen vào!” Y nhìn thẳng Bạch Phác: “Ngươi dùng đao?”
Bạch Phác nói: “Ta dùng cây quạt này.” vừa nói vừa nhủ thầm: “Ta đoán quả không sai, người này là đồ đệ của lão quái vật đó, tự phụ phách lối, cũng may, cũng may, chứ y và con ranh kia mà liên thủ thì chắc không ổn.”
Tiêu Lãnh nhíu mày, “Ngươi nên dùng kiếm.”
Bạch Phác mỉm cười: “Quạt gấp là đủ.” Tiêu Lãnh chực nổi cơn thịnh nộ, bỗng thiếu nữ lên tiếng: “Ta cũng dùng đao.” rồi rút một thanh đoản đao xanh óng ánh ra khỏi tay áo.
Tiêu Lãnh cau mày: “Em định làm gì?”
“Rõ ràng y là đối thủ của em, anh lại tranh với em.” Cô ta cong môi: “Hôm nọ ở Thần Tiên độ, anh im ỉm làm một mình, lần này em cũng phải giết người mới được.”
Tiêu Lãnh dở khóc dở cười “Sát nhân phóng hoả là việc của đàn ông. Sư phụ bảo em đi theo chỉ để mở rộng tầm mắt thôi, đâu có muốn em ra tay cùng ta.”
“Hừ, anh với sư phụ đều thích giết người như vậy, nhất định giết người là một việc thú lắm.” Thiếu nữ khăng khăng: “Em phải thử xem.”
“Em…” Tiêu Lãnh chẳng biết nên nói thế nào nữa.
Bạch Phác kinh hãi, bụng bảo dạ: “Con ranh này võ công cao cường, Nghiêm Cương và Đoan Mộc liên thủ cũng chưa chắc giành phần thắng, nếu ả không thuận theo quy tắc đơn đả độc đấu thì thật gay go.”
“Em bướng bỉnh như vậy, không sợ ta đánh đòn ư?” Tiêu Lãnh bực bội.
Thiếu nữ nghênh mặt: “Anh dám?”
Lập tức, một chấm sáng xanh loé lên trong tay Tiêu Lãnh. Ngoài Bạch Phác, chưa ai nhìn rõ động tác y thế nào, ngọn đao màu lam thẫm đã phụt ra khỏi bao lụa đen, vạch một đường vòng cung kỳ dị ngang qua không trung, găm đến cổ họng thiếu nữ.
“Ta nói được là làm được.” Tiêu Lãnh lạnh lùng.
“Anh có giỏi thì giết em đi.” Thiếu nữ uất ức, giàn giụa nước mắt, dấn bước tới, mặc lưỡi đao vẫn kê sát ở cổ: “Anh giết em đi, đằng nào sư phụ cũng không có đây, anh muốn bắt nạt ức hiếp gì thì tuỳ.”
Tiêu Lãnh vốn chỉ muốn doạ cô ta, thấy vậy luống cuống thu tay về: “Em không nghe lời thì ta phải dạy dỗ.” Miệng vẫn nói cứng, nhưng lòng y đã đổi ra hối hận.
“Ai khiến anh lo?” Cô gái được nuông chiều từ nhỏ, chưa chịu ấm ức như thế bao giờ, nhưng không đánh lại được sư huynh bèn giận dỗi dậm chân, chạy ra khỏi quán.
“Em đi đâu?” Tiêu Lãnh vùng nhảy theo.
Thấy y sắp biến mất, Nghiêm Cương không chịu buông tha, băng lên chắn đường, giơ đao ra đón: “Muốn trốn ư?”
Bạch Phác vội thét: “Đừng Nghiêm huynh.” Ánh lam lay động, đao khí ập tới Nghiêm Cương, da cổ y cứng đơ.

Bạch Phác bay theo, biết không kịp chặn bèn gập cây quạt điểm nhanh vào bốn yếu huyệt trên lưng Tiêu Lãnh. Trước đòn vây Nguỵ cứu Triệu, Tiêu Lãnh không dám sơ suất, động chân trở đao lại.

Kim khí giao nhau xủng xoảng, ba người thoắt va chạm rồi tách ra ngay. Nghiêm Cương loạng choạng tháo lui liền năm bước, thanh đại đao chín khuyên đã gãy đoạn. Bạch Phác và Tiêu Lãnh đứng đối mặt, tà áo không gió phần phật.
Bạch Phác điềm tĩnh nói “Đao pháp độc lắm.”
Tiêu Lãnh nhìn Văn Tĩnh, chẳng nói chẳng rằng rảo bước ra khỏi quán, đuổi theo cô gái.
“Bạch tiên sinh, không thể bỏ qua cho hắn được.” Đoan Mộc Trường Ca nói: “Phải liên thủ giết chết hắn, bằng không hậu hoạn vô cùng.”
Bạch Phác nhăn nhó, sau một tiếng tinh, cây quạt gấp rơi khỏi tay y, gãy thành hai đoạn. “Giết hắn… nói mới dễ làm sao.” Y thở dài, “Nếu hắn muốn đi, liên thủ cũng không ngăn được đâu.”
“Bạch tiên sinh, có điều này lão không hiểu.” Lương Thiên Đức hỏi: “Kẻ đó đã ghê gớm như vậy, vì sao ông còn nói đến chuyện tráo mận đổi đào, chẳng phải là đẩy Văn Tĩnh vào chỗ chết ư?”
“Có hai nguyên do. Một, người đó đã nhận ra em đây giống Hoài An vương, dù không nói, chưa chắc hắn đã chịu bỏ qua. Hai, người Mông Cổ biết tin thiên tuế mất là một điều hết sức bất lợi cho Đại Tống ta, khi hai bên tương tranh mà bọn chúng loan báo chuyện này, tất nhiên quân ta sẽ loạn, lòng người sinh nghi, chân tướng sự việc bại lộ.” Bạch Phác ngừng một chút rồi tiếp: “Lương tiên sinh yên tâm, võ công kẻ đó chưa hẳn đã thắng được tôi, Bạch Phác còn sống thì sẽ liều chết bảo vệ em đây.”

Lương Thiên Đức bán tín bán nghi, nhưng đâm lao đành thành theo lao, không còn cách nào khác nữa. Đoan Mộc Trường Ca gọi tên tiểu nhị đang run như cầy sấy đến, bảo nó sắp xếp mấy phòng để nghỉ.

Về đêm, trăng lưỡi liềm treo trên ngọn cây. Tiếng mõ canh dứt đi, bốn bề chìm vào yên tĩnh, chỉ có tiếng chim rờn rợn thi thoảng vọng lại từ một nơi xa xôi. Đường xá trấn Hề Cốc vắng tanh vắng ngắt, ánh trăng lạnh hắt nghiêng xuống góc tường phía đông, in bóng những mái che.
Văn Tĩnh len lén thò đầu ra khỏi khuôn cửa sổ cánh đơn, tụt xuống theo cái cột, được lưng chừng, bỗng nghe thấy tiếng động trên ngói, cả kinh hụt chân ngã nhào, suýt buột miệng hét lên.
Gã bò dậy, xoa cái mông ê ẩm, ngó lên mái nhà. Ánh trăng soi bóng một con mèo đen đang nhìn lại gã chằm chằm, “Hừm, đồ súc sinh như mày mà cũng đến bắt nạt ta.” Văn Tĩnh lẩm bẩm: “Ta về Hoa sơn với bác Huyền Âm đây, còn cái gã thiên tuế chết toi kia, ai thích thì đi mà làm.”
Gã theo đường cái chạy ra khỏi trấn, còn chưa an tâm, lại chạy thêm một quãng xa nữa mới dừng bước, cảm thấy thân thể khoan khoái khôn tả, thở hít thật sâu, định kêu tướng lên, bỗng nghe thấy sau lưng có người hừ một tiếng: “Thì ra ngươi ở đây, tốt lắm, tốt lắm.”
Văn Tĩnh nghe giọng, sợ mất vía, chạy vắt chân lên cổ.
“Chạy đâu?” Giọng nói lảnh lót đuổi theo sau lưng.
Văn Tĩnh tăng tốc, trời tối, cảnh vật lờ mờ, gã bất cẩn vướng vào dây khô, ngã lộn đầu xuống một rãnh nước.
“Toi rồi, toi rồi.” Văn Tĩnh than thầm: “Chết là cái chắc.” Nghĩ tới đây, gã sực nhớ ra một mẹo, bèn nín thở, rúc kỹ đầu xuống đất.
Người vừa rồi chính là cô gái gặp buổi ban ngày. Lúc đó cô ta tức giận, chạy ra khỏi quán, Tiêu Lãnh bị Bạch Phác và mấy người kia cản bước nên không đuổi kịp. Thiếu nữ cố ý để sư huynh lo lắng, nên chạy bừa đến những nơi vắng vẻ hẻo lánh, ai ngờ gặp ngay Văn Tĩnh, vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ bèn gọi lại, khiến gã sợ vãi linh hồn.

Thiếu nữ đang lúc buồn tẻ, muốn chơi trò mèo vờn chuột, không ngờ gã thiếu niên ngã xuống là nằm im không nhúc nhích. Cô ta kinh ngạc nói: “Tên vương gia chó má này, lẽ nào yếu đuối đến thế, ngã một cái mà chết được ư?” Thoạt tiên thất vọng, sau đó tức giận, cô ta co chân đá vào thắt lưng Văn Tĩnh.

Văn Tĩnh dìm đầu trong nước, vốn dĩ đã hơi khó chịu, giờ trúng cú đá nặng nề, không nín thở nổi nữa, uống liền mấy ngụm nước lạnh buốt, nhỏm dậy rống lên: “Biết rõ là chết rồi mà còn đá nữa?”
Cô gái thấy cái xác động đậy được thì giật thót: “Té ra ngươi chưa chết?”
Văn Tĩnh nghe hỏi sực nhớ, nhanh trí rùng mình, cười khan đáp: “Vốn dĩ đã chết, bị cô đá nên sống lại.” Vừa nói gã vừa lùi ra sau.
“Thằng cha này ngộ thực.” Thiếu nữ mỉm cười: “Dám giở trò lừa gạt cô nương… Á, còn dám chạy?”
Văn Tĩnh chạy như gió cuốn, bỗng hoa mắt, đã thấy thiếu nữ đứng ngay trước mặt, gã vội rẽ sang trái, cũng cô ta chắp tay đón ở đó, lùi lại đằng sau thì suýt va vào mình cô ta. Gã đổi luôn năm sáu hướng, đâu đâu cũng có bóng người con gái, trùng trùng điệp điệp, khiến gã choáng váng, vừa kinh ngạc vừa sợ hãi, lắp bắp kêu: “Gặp ma rồi, gặp ma rồi!”
Văn Tĩnh vừa nói dứt thì ăn luôn một bạt tai, cái tát nặng quá, khiến gã ngã bổ chửng.
“Ai là ma?” Cô gái giận dữ: “Chính ngươi mới là một con ma ngu xuẩn.”
Văn Tĩnh ấm ức hỏi, “Cô không phải ma, sao bóng cô nhan nhản khắp nơi thế?”
Cô gái toét miệng cười: “Ngươi không biết được đâu. Đây là U Linh Di Hình thuật của sư phụ ta, là thân pháp đệ nhất thiên hạ đấy.”
“U Linh Di Hình thuật?” Văn Tĩnh lẩm bẩm: “Công phu quái gở!”
Nghe loáng thoáng, cô gái hỏi: “Ngươi bảo sao?”
“Không có gì, không có gì.” Văn Tĩnh vội đáp: “Ý tôi là, sư phụ cô rất giỏi”
“Nói thế còn được.” Thiếu nữ cười: “Sư phụ ta là cao thủ võ học bậc nhất trên đời.”
Văn Tĩnh thấy cô ta đổi giận làm vui, sợ lại trở mặt nữa, đành bấm bụng tâng bốc: “Thế thì nhất định cô là bậc nhì rồi.”
“Không đâu.” Thiếu nữ trầm tư: “Đại sư huynh và nhị sư huynh đều trên tài ta, giỏi lắm thì ta chỉ xếp vào bậc thứ tư trong thiên hạ thôi.”
“Ồ.” Văn Tĩnh hỏi: “Cô còn một sư huynh khác nữa ư?”
“Ừ. Đại sư huynh Tiêu Lãnh là đệ nhất cao thủ dưới trướng hoàng đế Mông Ca, nhị sư huynh Bá Nhan là chiến tướng của nguyên soái Ngột Lương Hợp Thai. Luận về võ công, đại sư huynh nhỉnh hơn nhị sư huynh một chút, nhưng là do anh ấy cần mẫn mà thôi, chứ thật ra nhị sư huynh mới thực là thông minh, công phu gì cũng chỉ luyện qua một vài lần là thuần thục, vì vậy sư phụ ta nói, nếu nhị sư huynh hết lòng luyện võ, chỉ hai năm nữa là vượt xa đại sư huynh. Tuy vậy, người sư phụ cưng chiều nhất lại là ta đây.” Thiếu nữ bụng để ngoài da, chạy lông nhông suốt ngày đâm buồn chán, chỉ muốn tìm một người nói chuyện, nay nghe Văn Tĩnh hỏi đến điều mình tâm đắc nên cứ thao thao bất tuyệt.
Kể lể một hồi, thấy Văn Tĩnh đầu óc như để đâu đâu, cô ta tỏ ra bực bội: “Ngươi không nghe ta nói à!”
Văn Tĩnh đang vắt óc tìm kế thoát thân, nghe vậy vội đáp: “Có chứ, có chứ! Tôi cứ nghĩ, nếu cô luyện thêm mười năm nữa, nhất định còn giỏi hơn hai sư huynh kia cơ.”
Thiếu nữ cười khanh khách: “Đương nhiên. Ngươi nói nghe lọt tai, nên ta sẽ không nặng tay quá, bây giờ ngoan ngoãn đi cùng ta đến chỗ sư huynh.” Nghĩ mình bắt được tên vương gia chó chết của nhà Tống, có thể hiển lộ uy phong trước mặt Tiêu Lãnh, cô ta vui mừng vô cùng.
Văn Tĩnh bỗng gập bụng rên rẩm.
Thiếu nữ nhíu mày: “Sao thế?”
“Đau bụng quá, chắc do hồi tối ăn cái gì đó mất vệ sinh.” Gã lom khom đi vào rừng: “Để tôi đi rửa một chút.”
Thiếu nữ ngây thơ nhưng không ngốc nghếch, bảo ngay: “Không. Nếu ngươi thừa cơ chạy mất thì ta biết tìm ngươi ở đâu? Muốn đại tiện thì đi luôn ở đây là được rồi.”
Văn Tĩnh vội nói: “Á, cô là phụ nữ, tôi đâu dám thất lễ thế để làm bẩn mắt cô nương. Tôi đi trong rừng kia thì hơn.” Nói rồi lại xốc quần lên bước.
Thiếu nữ giơ tay tóm gã lại, như diều hâu quắp gà, lẳng luôn xuống đất: “Ta là người Mông Cổ, không hiểu những quy tắc ngớ ngẩn của người Hán các ngươi. Muốn đại tiện thì thực hiện luôn tại đây, ta ở bên suối đợi ngươi xong việc.”
Văn Tĩnh nghe vậy toát mồ hôi, ỉa cũng dở, không ỉa cũng dở. Thiếu nữ tiến đến bên suối, ngồi lên một tảng đá to.
Văn Tĩnh vô kế khả thi, cắn răng giả bộ cởi quần, ngồi xổm xuống, bỗng nhảy phốc lên, phóng vèo vào bụi cây.
Gã vừa tiếp đất, chưa kịp đứng vững đã bị đá vào mông, ngã sấp mặt.
“Thằng khốn kiếp, quả nhiên là giở trò ma!” Thiếu nữ lôi gã dậy, trợn mắt, rút từ tay áo ra một ngọn đoản đao: “Ta chặt một giò ngươi, xem ngươi chạy đằng nào.” Đoạn toan động thủ.
“Khoan, khoan.” Văn Tĩnh kêu to.
Cô gái hỏi “Còn gì nữa đây?” rồi đợi xem gã diễn trò.
Văn Tĩnh nói: “Võ công của cô xếp vào bậc thứ tư từ trên xuống, võ công của tôi chắc chỉ hạng bốn từ dưới lên, có thể nói là một trời một vực. Cô ra tay với kẻ kém cỏi này, chẳng phải làm ô uế thanh danh của đệ tứ cao thủ lắm hay sao?”
Thiếu nữ nghĩ ngợi, thấy cũng có lý: “Theo ngươi thì thế nào?”
“Tôi cho rằng, chúng ta nói chuyện rôm rả, chia tay vui vẻ, cô đi đường cô, tôi đi đường tôi. Hai bên đều hoan hỉ.” Văn Tĩnh uốn éo lắc lư như diễn tuồng, cảm thấy phương pháp của mình quả thực toàn mĩ.
Thiếu nữ quen đùa nghịch bỡn cợt từ nhỏ, không dễ bị mắc lừa. “Phì, ngon ăn nhỉ, ở đây đồng không mông quạnh, cho dù ta ức hiếp kẻ xếp hạng bốn từ dưới lên thì cũng có ai biết được chứ?”
Văn Tĩnh hoảng hồn, vội vã múa mép: “Trời biết đất biết, cô biết tôi biết, sao lại nói là không có ai biết?”
“Ta chẳng tin trời đất bao giờ, cứ chặt chân ngươi rồi hãy hay.” Ả con gái này thực là tâm địa tàn nhẫn, hành động độc ác, nói chặt là chặt. Thấy cô ta vung đao lên, Văn Tĩnh nhắm nghiền mắt lại, hét lên thảm thiết như bị chọc tiết.
Gã thiếu niên sắp biến thành kẻ què cụt, bỗng có một chiếc giày nát từ trong rừng bay vù ra, bắn trúng vào lưỡi đao. Thiếu nữ thấy hổ khẩu đau rát, không cầm vững được nữa, ngọn đao bay vù đi theo đà chiếc giày rách. Một tràng cười dài vang lên, rồi có bóng người lướt ra, đi sau mà đến trước, xỏ luôn chân vào chiếc giày rách ngay giữa không trung, ống tay áo rộng phấp phới như đôi cánh chim, ung dung hạ xuống, hiện rõ một nho sinh ngoài ba mươi tuổi. Thân hình ông ta dong dỏng, cử động khoan thai, mang đôi giày cũ nát, tấm áo nhà nho tơi tả, nhác trông lếch thếch bẩn thỉu, nhìn kỹ lại thấy toát lên khí chất hào hoa mà bộ y phục rách mướp không thể nào bôi xoá nổi.
Chứng kiến tài khinh công của người đó, thiếu nữ hoảng hồn: “Ngươi là ai?”
Nho sinh ngắm thiếu nữ bằng cặp mắt tinh anh, cười ha ha bảo: “Không ngờ Hắc thuỷ nhất quái Tiêu Thiên Tuyệt kiêu hãnh ngạo thế lại có một nữ đồ đệ ngổ ngáo thế này!”
Nghe ồn ã, Văn Tĩnh mở bừng mắt. Kiểm tra đôi chân vẫn nguyên vẹn, gã liền tạ ơn trời đất, sau đó định thần nhìn kỹ nho sinh, bất giác nổi cơn thịnh nộ, gào lên: “Á, cuối cùng cũng tóm được ngươi, trả túi tiền ta đây.”
Thấy gã đang cơn nguy hiểm mà vẫn tính nợ cũ với mình, nho sinh mỉm cười, rút ra một túi tiền hỏi: “Cái này phải không?”
“Quả nhiên là ngươi lấy.” Văn Tĩnh kêu lên. “Trả đây!”
“Ngươi hay xía vào chuyện người khác, mở mắt cho ngươi chút thôi.” Nho sinh cười: “Trả thì trả.”

Nói rồi vung tay, túi tiền bay theo một đường vòng, nhưng lại bắn vào mặt thiếu nữ, kình đạo cực mạnh. Thiếu nữ kinh hoảng giơ tay đỡ, nào ngờ vừa chạm vào, túi tiền liền nổ bùng như túm thuốc nổ đã châm ngòi, bạc vụn bên trong rơi lả tả, rắc xuống mình cô gái, tuy không đau, nhưng khiến cô ta sợ hãi vô cùng. Đúng lúc hoang mang ấy, hệt như ma quỷ, nho sinh không hề thấy cử động, đã lướt luôn đến gần thiếu nữ, nhăn mặt lè lưỡi, thổi một hơi vào mặt cô ta.

Kinh hoàng quá độ, cô gái không kịp nghĩ ngợi, buông ngay Văn Tĩnh ra, bay dạt lại sau.

Văn Tĩnh được tự do, vội vàng thu nhặt mớ bạc vụn. Nho sinh cau mày hỏi: “Thằng nhóc, sao không biết phân biệt lợi hại như vậy? Chẳng lẽ món bạc đó quan trọng hơn cái đầu ngươi ư?”

“Ông thì biết gì?” Văn Tĩnh vừa lúi húi nhặt, vừa làu bàu: “Bố tôi thức khuya dậy sớm, đan giỏ trúc bán lấy tiền, com cóp năm năm trời mới được ngần này. Bàn tay đã nổi lên không biết bao nhiêu chai sần.”
Nho sinh ngây người, nói với vẻ nghiêm túc: “Thì ra là vậy, tại hạ sai rồi.” Nói xong, ông ta xá Văn Tĩnh một cái, ngồi xổm xuống, giúp gã nhặt bạc.
Hai người lọ mọ nhặt, mặc kệ thiếu nữ đứng trơ ra đấy. Cô ta nổi giận, vừa lúc trông thấy thanh đoản đao nằm dưới đất, bèn lượm lên thét: “Đồ khố rách áo ôm, chết này!” Đoản đao hoá thành một vệt sáng bay vút đi. Đường đao mệnh danh Tu La Truy Hồn, là sát chiêu trong tuyệt học Tu La Diệt Thế đao của sư môn cô ta. Tu La Diệt Thế đao có cả thảy bảy thức biến hoá, chiêu nào cũng chí mạng, kỳ dị tàn độc.
Nho sinh nhìn thấy, cười ha hả, nắm lấy lưng Văn Tĩnh, hoa tay múa chân bay về phía sau. Thiếu nữ la hét liên hồi, bám theo sát gót. Hai người một tiến một thoái, thân pháp đều cực nhanh. Văn Tĩnh nghe bên tai tiếng gió vù vù, chẳng trông thấy gì nữa cả.
Mũi đao của thiếu nữ khoa liền bảy tám vòng, rồi dừng lại ngoài một thước, không tiến lên được nữa. Đà đao sắp đuối, thiếu nữ tỏ ra lo lắng. Bỗng nho sinh vấp chân, chấp chới ngã, tay phải chống xuống đất, chân trái chổng lên trời. Thiếu nữ mừng rỡ tung mình tới huơ đao chém, định tâm chặt đứt hai người đàn ông thành bốn mảnh. Nào ngờ mũi chân trái nho sinh khéo léo điểm đúng vào huyệt Khúc trì cô ta, chiêu thức cực kỳ thuần thục. Thiếu nữ không kịp thu thế, trừng mắt nhìn mũi chân thối hoắc trên cổ tay mình, soạt một tiếng, đoản đao lại tuột tay, rơi xuống suối.

Cô gái ứng biến rất nhanh, đao mới tuột tay, tả chưởng đã như thác đổ, chém xéo vào mặt nho sinh, định bụng vả miệng lão. Hữu thủ nho sinh đang nắm Văn Tĩnh, gã nhóc tứ chi bất động nhưng không chịu chạm bùn, mặt sắp cạp đất, gã vội chống tay xuống, ngăn đà ngã của nho sinh. Thế là đủ, chân nho sinh như lắp lò xo, bật vút lên tựa tên rời cung, cười hi hi đứng tuốt ra xa. Thiếu nữ tát vào khoảng không.

Cô gái theo học danh môn, qua hai chiêu đủ biết nho sinh trông bộ dạng lúng túng cuống quýt như vậy, kỳ thực đang đùa cợt với mình, chiêu thức nào của cô cũng bị ông ta đoán trước, bị ông ta khống chế, đánh tiếp nhất định sẽ thua. Đầu óc nhanh nhạy, cho rằng ba mươi sáu chước, chước chuồn là hơn, cô gái co cẳng bỏ chạy.
Nho sinh đặt Văn Tĩnh xuống, cười hỏi: “Đánh không được là chạy, cũng do sư phụ ngươi dạy đấy phải không?” đoạn phất tay áo, thân hình như chiếc lá bay trong gió thu, lướt chầm chậm qua đỉnh đầu cô gái, hạ xuống trước mặt cô ta, khoát tay áo, kình khí ào ra khiến thiếu nữ nghẹn thở, lảo đảo lùi lại sau, lúc quay đầu toan chạy, đã thấy nho sinh xuất hiện trước mặt. Thiếu nữ nhấp chân, thi triển U Linh Di Hình thuật, biến ảo chớp nhoáng, chỉ thoáng chốc đã đổi liền sáu phương vị, khiến người ta hoa cả mắt.

Nho sinh thong thả dịch ba bước sang trái, lại ba bước sang phải, ung dung nhàn nhã, tư thế vẫn tiêu sái, những bước chân ông ta như tạo thành một cái lồng to, bất luận thiếu nữ biến hoá thế nào cũng không vượt được ra ngoài ranh giới, hễ định thoát thân, nho sinh lại đến trước mặt, khoát tay dồn trở vào lồng.

Thiếu nữ luống cuống như kiến bò chảo nóng. Văn Tĩnh nghĩ tới tình cảnh mình bị cô ta giỡn cợt lúc nãy, cảm thấy khoái trá vô cùng, nhủ thầm: “Đúng là quả báo nhãn tiền! Mà tên kẻ trộm nhà nho này cũng thật kỳ lạ, cô ả chạy nhanh thế, còn lão ta chạy chậm thế, tại sao vẫn bắt kịp đến trước mặt người ta?”

“Đồ khố rách áo ôm, đồ hôi thối, ăn mày, khốn kiếp!” Thiếu nữ vô kế khả thi, bối rối quá buột miệng chửi rủa.
“Cho ngươi chửi!” Nho sinh cười, “Ta coi như đóng cửa đánh chó, bắt nhái bỏ đệp thôi!”

“Bắt nhái bỏ đệp là gì?” Thiếu nữ đã nghe câu đóng cửa đánh chó, nhưng chưa nghe thành ngữ bắt nhái bỏ đệp rất văn nhã nọ, rất lấy làm tò mò, đang khi luống cuống vẫn buột miệng hỏi khiến nho sinh phì cười, ông ta chưa kịp đáp, Văn Tĩnh đã nói: “Câu này ta biết, có nghĩa là bắt cua trong giỏ.”

Thiếu nữ hiểu ra, tức sôi gan, lao vù đến Văn Tĩnh. Chưa được ba bước đã bị nho sinh cản lại. Cô ta nhớ lại ban nãy trước mặt gã trai, còn ba hoa mình là cao thủ hạng bốn trong thiên hạ, loáng cái đã bị tên nho sinh khốn kiếp dày vò tới mức này, xấu hổ không để đâu cho hết, giận nhất là, đồ bị thịt kia đang đứng đấy cười nhạo cô ta, có nhẽ đâu thế!
Càng nghĩ càng giận, uất ức quá độ, cô ta ngồi bệt xuống đất, khóc rống lên.
Nho sinh tuy đoán trước được mọi mưu mẹo, nhưng không ngờ địch thủ lại giở đến chiêu này. Cô gái cứ khóc thút thít, vừa i ỉ vừa nỉ non: “Các người đều bắt nạt ta… sư huynh giơ đao chém ta… hu hu… thằng nhóc thối tha cười ta… hu hu… tên khố rách áo ôm thì dùng thân pháp ma quỷ chòng ghẹo ta… Nếu sư phụ biết… hu hu… các người đều chết hết… hu hu hu…”
Nho sinh cười bảo: “Sư phụ ngươi làm gì có được bản lĩnh ấy?”
“Hừ.” Cô ả gạt lệ: “Ngươi biết danh hiệu của sư phụ ta thì chắc cũng đã nghe đến câu nước đen cuồn cuộn, ngập khắp thiên hạ. Sư phụ ta vô địch thiên hạ, sư phụ thương ta nhất, biết ngươi ức hiếp ta, nhất định sẽ băm ngươi ra làm muôn vàn mảnh nhỏ.”
“Vô địch thiên hạ á?” Nho sinh lắc đầu cười: “Chưa chắc! Lão ấy đấu với ta một trăm mười lần rồi, chưa lần nào chiếm được ưu thế!”
“Bốc phét.” Thiếu nữ không tin.
Nho sinh cười: “Ngươi biết câu nước đen cuồn cuộn, ngập khắp thiên hạ, vậy đã nghe câu tung cánh ngang trời, bay cao muôn trượng chưa?”

Thiếu nữ ngẩn ra, quên cả khóc, ngắm nghía nho sinh, bỗng nhớ ra một người, liền la lên thất thanh: “Ngươi là Cùng nho Công Dương Vũ!”

Sư phụ của thiếu nữ là Hắc thuỷ nhất quái Tiêu Thiên Tuyệt, xuất thân hoàng tộc Khiết Đan, võ công rất cao, lòng dạ tàn độc, thời trẻ tung hoành trung nguyên, không ai kiềm chế nổi, về sau ẩn cư ở Trường Bạch sơn và Hắc Long giang, không xuất thế nữa nhưng uy danh vẫn còn, người dụng võ khắp miền nam bắc cứ nghe đến tên lão là tái mặt. Tiêu Thiên Tuyệt cả đời chẳng coi ai ra gì, nhưng trước khi đệ tử xuống phương nam, lão có nhắc đến một người, dặn bọn chúng không được đối địch. Thiếu nữ chưa trải nghiệm giang hồ lại chịu ảnh hưởng của sư phụ, xưa nay ngông cuồng đã quen, nghe dặn cũng bỏ ngoài tai, lúc này chịu bao khổ sở mới nhớ lời thầy, sực nghĩ ra nhân vật này.

Công Dương Vũ nghe gọi danh hiệu của mình, cười bảo: “Hơn mười năm không gặp, Tiêu lão quái vẫn nhớ đến ta, đủ thấy lão còn biết mình biết người.”

Thấy Công Dương Vũ không tỏ vẻ ác ý, thiếu nữ cũng dạn hẳn lên, “Thế thì sao nào? Ngươi là tiền bối bằng vai với sư phụ, ta chỉ là một đứa bé gái, ngươi thừa lúc sư phụ vắng mặt, chèn ép ta, chẳng phải là lớn ăn hiếp nhỏ hay sao?”
“Bé gái?” Công Dương Vũ nghiêm mặt: “Có thứ bé gái nào chặt chân người bừa bãi không?”
Nhìn nho sinh đổi sắc mặt, thiếu nữ lạnh người, nhưng vẫn cãi bướng: “Thế thì sao? Ai bảo gã đánh không lại ta?”
“Thì thế, ngươi cũng đánh không lại ta!” Công Dương Vũ cười nhạt: “Xem ra ta có thể lấy một cái gì đó trên người ngươi.”
Thiếu nữ cứng họng, một hồi lâu mới nói: “Đằng nào cũng thua rồi, ngươi thích làm gì thì làm!”
Trước bộ dạng anh hùng ấy, Công Dương Vũ quyết dạy cho cô ta một bài học, mỉm cười bảo Văn Tĩnh: “Nhặt ngọn đao lại đây.”
Tưởng y động thủ thật, Văn Tĩnh cả kinh hỏi: “Ông định chặt chỗ nào của cô ấy?”
“Con bé này có cái miệng đanh đá, đương nhiên phải cắt vật trong miệng nó.” Công Dương Vũ cười: “Ngươi ăn món lưỡi lợn bao giờ chưa?”
“Ăn rồi.” Văn Tĩnh thật thà đáp.
“Ngon không?”
“Ngon.”
“Nghe nói lưỡi con gái vừa mềm vừa trơn, nhất định còn ngon hơn lưỡi lợn.” Công Dương Vũ nói: “Ta định cắt lưỡi nó nhắm rượu, thưởng thức mùi vị của cái thứ lắt léo không xương ấy xem sao.”

“Phì.” Cô gái nổi giận: “Ngươi mới là đồ con lợn, sao không cắt lưỡi mụ vợ mà nhắm rượu?”

Công Dương Vũ lấy đoản đao từ tay Văn Tĩnh, vẩy một cái cho ráo nước: “Cứ chửi đi, đằng nào ngươi cũng không chửi được lâu nữa.” rồi trỏ thẳng đao vào miệng thiếu nữ. Cô gái nhìn mũi đao loang loáng, sợ hãi vô cùng, nhảy dựng lên, ngoắt đầu chạy trốn. Công Dương Vũ tiến lên một bước, nắm lấy huyệt Chí dương trên lưng cô ta, bắt xoay lại, bảo: “Ngoan ngoãn há miệng ra cho khỏi đau đớn nhiều.”

Thiếu nữ tất nhiên không nghe, cắn răng thật chặt. Nghĩ tới việc mất lưỡi, cả đời làm một kẻ câm, cô ta bất giác nhắm chặt mắt lại, lệ tuôn ròng ròng.
Văn Tĩnh trông thấy động lòng, nhưng không biết nên nói gì, bỗng quỳ sụp xuống trước mặt Công Dương Vũ.
Công Dương Vũ ngạc nhiên hỏi: “Sao thế?”
Văn Tĩnh không nói được ngọn ngành, chỉ dập đầu lia lịa. Thiếu nữ chưa thấy động tĩnh gì, mở mắt, ngây người nhìn gã thiếu niên.
Công Dương Vũ hỏi: “Ngươi muốn nói gì? Cứ nói đi.”
Văn Tĩnh định nói, nhưng vừa mở miệng, lại không biết nên nói thế nào. Thiếu nữ thầm nghĩ: “Ta chưa câm, thằng nhóc này đã câm rồi, thực là kỳ lạ.”
Công Dương Vũ nhạy bén, nhìn nét mặt đã đoán được ít nhiều, cười hỏi: “Ngươi muốn ta tha con ranh này phải không?”

Văn Tĩnh ngẩn người, đỏ mặt gật đầu. Công Dương Vũ lắc đầu bảo: “Vừa rồi không nhờ chiếc giày của ta, chân ngươi đã bị ném cho chó ăn rồi. Con ranh này độc ác như thế, vì sao ngươi còn van xin giúp nó?”

Văn Tĩnh nghe hỏi, trố mắt, không biết nói sao, lại dập đầu binh binh. Công Dương Vũ đảo mắt cười: “Ngươi khăng khăng bảo vệ như thế, cũng được, ta không cắt lưỡi ả nữa, tặng ả làm vợ ngươi vậy?”

Câu nói chẳng khác nào sấm nổ giữa trời xanh. Văn Tĩnh cảm thấy như có mười hai con cóc nhét đầy trong miệng, nghĩ bụng tất cả những lời bông đùa hoang đường nhất đời cũng không vô lý như câu ấy được.

Thiếu nữ nhợt mặt, chuyện này còn khó chịu hơi bị cắt lưỡi hàng ngàn hàng vạn lần, bèn thét to: “Tên ăn mày, cắt lưỡi tao đi, tao không đời nào làm vợ thằng ranh thối tha ấy!”

Công Dương Vũ cười bảo: “Ta thấy gã mặt mũi ngay ngắn, chưa chắc không xứng với ngươi.”
“Cái thằng võ công đội sổ hạng bốn thiên hạ mà làm chồng ta!” Thiếu nữ cố ý kéo dài chữ ‘đội sổ hạng bốn’.
Công Dương Vũ cười ha hả, đẩy cô ta ra bảo: “Võ công ấy hả? Ta chỉ vẽ vớ vẩn cho gã một tối, chưa chắc gã đã thua ngươi.”
“Ta không tin.” Cô gái trừng mắt nhìn Văn Tĩnh: “Đức hạnh dạng này, đừng nói một đêm, mà dẫu luyện một trăm năm, cũng chẳng đáng xách dép cho bản cô nương.”
“Thật không?” Công Dương Vũ cười nửa miệng: “Nếu gã thắng ngươi thật thì sao?”

Thiếu nữ buột miệng “Thì ta sẽ làm vợ gã.”
Công Dương Vũ bảo: “Nhất định thế nhé.”

Thiêu nữ dứt lời, cảm thấy hối hận, lại chằm chằm nhìn Văn Tĩnh, hơi yên dạ: “Kể cả có loại võ công luyện thành trong một đêm thì cái đồ bị thịt này cũng không làm được.” Bèn nghiến răng nói: “Tất nhiên. Người Mông Cổ chúng ta một lời nói là một đợ máu, không giống Hán nhân các ngươi.”

Công Dương Vũ phất tay áo rộng: “Ngươi đi được rồi.”
Thiêu nữ không biết ông ta định dạy Văn Tĩnh võ gì, cảm thấy chột dạ, bèn hỏi: “Không xem được ư?” Nhác thấy thần sắc Công Dương Vũ cổ quái vô cùng, cô ta thót tim, vội nói: “Ta đi ngay.” Rồi nhảy lên hụp xuống mấy cái, biến mất tăm mất tích.
Công Dương Vũ bảo Văn Tĩnh: “Ngươi đến bờ suối nhặt bốn mươi sáu viên sỏi tròn tròn về đây.”
“Làm gì mà cần nhiều vậy?”
“Ngươi cứ nhặt về đây.”
“Ba mươi sáu viên không được ư?”
“… Không được.”
“Bốn mươi viên vậy, cho chẵn!”
Công Dương Vũ nổi giận: “… Đừng mặc cả với ta, giờ hồn ta đá văng đi bây giờ.”

Văn Tĩnh thất thểu đi đến bên suối, nhặt sỏi túm vào áo mang về. Công Dương Vũ nhón lấy một viên, tâng tâng trong lòng bàn tay, bỗng cong ngón tay bắn đi, nó rít vang, bay vút vào rừng rậm. Tiếng hét the thé lập tức vang lên. Văn Tĩnh nhận ngay ra giọng thiếu nữ.

Cô ta không chịu từ bỏ, muốn xem lão nho sinh định làm trò ma gì, nên nín thở núp vào bụi cây. Công Dương Vũ búng viên sỏi qua sát đỉnh đầu, làm rối mớ tóc, khiến cô ả sợ mất mật, co chân bỏ chạy.

Cô gái chạy rõ xa mới ngoác miệng chửi: “Khố rách áo ôm! Nhằm lúc người ta không đề phòng, thật đáng xấu hổ!”

“Còn làu bàu, liệu cái thần hồn không tan mặt!” Giọng Công Dương Vũ vang lên rõ mồn một, như sát bên tai. Thiếu nữ cả kinh, chạy biến đi còn nhanh hơn thỏ.

Hết chương 2

Chú thích:
Tám câu đầu trong bài thơ Kiếm Môn của Đỗ Phủ. Bản dịch của Phan Ngọc
Phiên âm Hán – Việt:
Duy thiên hữu thiết hiểm, Kiếm môn thiên hạ tráng .
Liên sơn bão tây nam, Thạch giác giai bắc hướng.
Lưỡng nhai sùng dung ỷ, Khắc hoạ thành quách trạng.
Nhất phu nộ lâm quan, Bách vạn vị khả bàng
Nguyên văn: Hắc thuỷ (chỉ Hắc Long giang)
Tu Di là ngọn núi lớn ở Bồng Lai tiên cảnh, phiếm chỉ một vật gì rất to. Giới tử là hạt cải, phiếm chỉ vật gì rất bé.

Tài sản:


[Xem tất cả tài sản]
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
quynhmi
bài viết 29 Aug 09 01:21
    Gửi vào: #4
Ông Trùm Thành viên thứ: 242878 Tiền mặt: 98917050
Group Icon Tham gia: 1-March 09 Được cám ơn: 83
Nhóm: Members Bài viết: 1113 No Yahoo Messenger
Chương 3
Tam tài biến



Công Dương Vũ cười, sắp bốn mươi lăm viên sỏi thành một hình, hỏi Văn Tĩnh: “Ngươi có nhận ra cái gì không?”

“Nhận ra!” Văn Tĩnh thật thà đáp: “Là một con ba ba?”

Công Dương Vũ nhíu mày, toan giải thích, bỗng Văn Tĩnh thét lên kinh ngạc: “Không phải, đây là… Tôi từng trông thấy rồi, là Cửu cung đồ trong Lạc thư.”

“Ồ, ngươi biết hả?”

“Vâng, tôi có đọc sách mà. Huyền Âm đạo trưởng đã nói, hai và bốn là vai, sáu và tám là chân, bên trái là ba bên phải là bảy, chín đội ở trên một đạp ở dưới, năm nằm chính giữa, hình như con rùa đen. Chín số này, bất kể là cộng ngang, dọc hay chéo, kết quả cũng đều là mười lăm.” Văn Tĩnh hiếm khi có dịp phô diễn, đắc ý nói thao thao bất tuyệt, nước bọt văng tứ tung.

“Đúng.” Công Dương Vũ gật đầu: “Ngươi đã biết rồi thì ta đỡ vất vả.” Nói tới đây, ông cất bước, đi lại một lúc trên bờ cát ven suối, để lại bốn mươi lăm dấu chân sâu cỡ một tấc, hình dáng giống hệt với hàng sỏi sắp.

Ông trỏ vào hai trong số các dấu chân: “Từ đây tới đây, ngươi phải đi mất mấy bước?”

Văn Tĩnh ước lượng: “Năm!”

“Không được!” Công Dương Vũ lắc đầu: “Ta chỉ đi hai bước là đủ rồi!”

Văn Tĩnh nhìn ông ta, mắt in rõ rệt ba từ: “Ông nói phét!”

“Không tin hả?” Công Dương Vũ cười khành khạch, cất bước không nhanh không chậm, nhưng vô cùng kỳ quái, chỉ bước hai bước đã đến đúng dấu chân thứ hai.

Văn Tĩnh trố mắt kêu lên: “Sao lại thế được?” Gã vừa nhảy vừa chạy, trổ hết bản lĩnh, vẫn mất năm bước mới đến nơi, lắc đầu, “Quái nhỉ!”

Công Dương Vũ bảo, “Đó chính là thứ công phu ta muốn dạy ngươi! Công phu Tam tam bộ - cơ sở của Tam tài Quy nguyên chưởng.”

“Tam tài Quy nguyên chưởng? Tam tam bộ?”

“Cửu cung đồ mô tả sự biến đổi của tam tài, tức là ba yếu tố thiên – địa – nhân, công phu này xây dựng trên nền tảng ý nghĩa đó, nhấn mạnh mặt học vấn hơn là võ thuật.” Công Dương Vũ mỉm cười.

Văn Tĩnh bất giác phấn chấn, “Học vấn ư?”

“Phải, chẳng hạn như Tam tam bộ.” Công Dương Vũ nói: “Những người công phu bình thường thì phải bước năm bước, ngươi chỉ cần hai bước, người ta bước ba bước, ngươi chỉ cần một bước là tới nơi.”

“Như phép rút đất của thần tiên ấy nhỉ!” Văn Tĩnh hớn hở.

“Đúng, chỉ cần hiểu được nguyên tắc bước chân của ta, ngươi sẽ là thần tiên trong bốn mươi lăm bước này.” Công Dương Vũ hỏi: “Ngươi có muốn học không?”

“Có chứ.” Văn Tĩnh hào hứng đáp, bỗng nhớ ra điều gì, gã ngập ngừng hỏi: “Nhưng, không cần phải tập xuống tấn hay cử khoá đá1 trước ư?”

Công Dương Vũ lắc đầu: “Luyện sức mạnh là công phu bậc thấp, ta đây học võ công thượng thừa, coi trọng nhất là sự nhận thức. Có người dăm mười năm chưa chắc nhập môn được, nhưng nếu ngộ tính cao, chỉ một đêm cũng đủ.”

“Có thứ võ công dễ dãi như vậy sao?” Văn Tĩnh tươi mặt, thầm nghĩ: “Chỉ cần không cử khoá đá và xuống tấn là được rồi.”

Công Dương Vũ tủm tỉm, dùng bốn mươi lăm viên sỏi biểu diễn sự biến hoá của Tam tam bộ, bộ pháp này tiến hành theo lối biến hoá của Cửu cung đồ. Về những phép biến hoá ấy, Văn Tĩnh đã từng nghe Huyền Âm đạo trưởng giảng một phần, một phần khác biết đến nhờ đọc sách, nhưng không ngờ có thể áp dụng được vào võ công, ngoài ra còn nhiều nội dung Văn Tĩnh chưa hề biết tới, đều do Công Dương Vũ thông minh cơ trí phát triển thêm ra. Văn Tĩnh sáng dạ hơn người, bẩm sinh thích nghiên cứu những điều phức tạp, càng lắt léo càng hứng thú.

Nghe giảng hai lượt, Văn Tĩnh đã hiểu ngọn ngành. Công Dương Vũ lấy làm lạ, bèn không rườm lời nữa, bắt gã tự luyện tập, còn mình thì mở bầu rượu, ngồi bên suối quan sát.

Lần đầu tiên tu luyện một loại công phu coi trọng việc động não hơn động thủ, Văn Tĩnh thấy mới mẻ vô cùng, nghiền ngẫm những biến hoá của nó, cảm giác như uống rượu cất lâu năm, càng uống càng thấy mê. Gã quên hết tất cả, tập trung bay nhảy liên tục bên bờ suối, càng đi càng nhanh, được một lúc bỗng loạng choạng ngã sấp mặt, lồm cồm bò dậy lắc đầu: “Lẽ nào bước này sai?” Nói rồi, gã đi lần nữa, rất trơn tru, nhưng hễ bước nhanh hơn là lại ngã.

Văn Tĩnh gãi tai thắc mắc: “Sai ở đâu ấy nhỉ?”

“Bộ pháp thì không sai.” Công Dương Vũ buộc bầu rượu vào thắt lưng, thong thả đứng dậy: “Sai ở chỗ ngươi không tự lượng sức.”

Văn Tĩnh chằm chằm nhìn ông ta: “Không tự lượng sức?”

“Ờ, suy cho cùng đây vẫn là một môn thuộc võ công.” Công Dương Vũ mỉm cười: “Căn cơ võ nghệ của ngươi chỉ nhanh được đến mức đó thôi, hễ vượt ngưỡng là như trẻ nhỏ học chạy, nhất định sẽ ngã.”

“Vậy ư?” Văn Tĩnh ủ rũ.

“Ta đã nói rồi, Tam tam bộ là công phu nhập môn, luyện tiếp lên, tam tài sẽ biến thành tứ tượng, nên còn có Tứ tứ bộ, sau Tứ tứ bộ còn có ngũ ngũ Mai hoa bộ, lục lục Thiên cương bộ, thất thất Đại diễn bộ, bát bát Phục hi bộ, khi luyện đến cửu cửu Quy nguyên bộ thì coi như thành công. Tới lúc đó ngươi chẳng khác nào chim bay trên trời, cá lội dưới nước, tuỳ nghi biến ảo, muốn thế nào được thế ấy.”

Văn Tĩnh bất giác ngơ ngẩn: “Tôi có thể luyện được Quy nguyên bộ không?”

Công Dương Vũ ngắm gã, tủm tỉm bảo: “Với căn cơ của ngươi, luyện chừng một trăm năm nữa là được.”

“Một trăm năm?” Văn Tĩnh nhăn mặt: “Thế thì đi luyện ở chỗ ông bà ông vải rồi còn gì.”

Công Dương Vũ phá lên cười: “Đừng nản chí! Lúc ta bằng tuổi ngươi, sức trói gà không chặt, còn thua ngươi xa!”

Văn Tĩnh sáng mắt, song lập tức lại lộ vẻ ngờ vực nhìn Công Dương Vũ.

Công Dương Vũ nói: “Thực ra, mọi sự biến hoá đều trên cơ sở của Cửu cung đồ. Ta đã giao hẹn với con bé đó chỉ một đêm thôi, không thể dạy ngươi nhiều, nhưng bộ pháp này cũng đủ thắng nó rồi.”

Ông ta đi đi lại lại, chậm rãi tiếp: “Công phu của Hắc thuỷ nhất quái là hạng sắc sảo tàn độc nhất đời này, nên phải thừa lúc sơ hở đánh vào chỗ yếu hại mới có thể đương cự được. Tam tam bộ chỉ là thừa lúc sơ hở, còn muốn đánh vào chỗ yếu hại thì phải dùng đến Tam tài chưởng mới xong.” Y ngừng một lúc, “Thời gian không còn bao lăm, ta truyền cho ngươi ba chiêu chưởng pháp.”

“Tôi không luyện đâu.” Văn Tĩnh bực dọc: “Luyện quyền cước ốm người lắm.”

“Bắt buộc.” Công Dương Vũ bảo: “Con ranh đó không đời nào bỏ qua cho ngươi. Nếu ngươi muốn sống thì phải luyện lộ chưởng pháp này.”

Văn Tĩnh nói vẻ thật thà: “Không đánh lại thì chạy.”

Công Dương Vũ giật mình: “Chạy? Tam tam bộ là di chuyển tại chỗ, ả ta đuổi theo thì ngươi mệt chết.”

Văn Tĩnh cũng giật mình: “Gay nhỉ!” Sực nghĩ ra, gã tự nhủ: “Ồ vất vả nhọc nhằn gì thì cũng chỉ trong ba chiêu thôi mà.” Nghĩ tới đây, gã bèn đồng ý.

Công Dương Vũ đánh mẫu một lượt. Văn Tĩnh nhìn thấy như vẽ hình một cái hồ lô, chẳng rắc rối gì lắm, bèn uể oải luyện một lúc, được đến tám phần mười. Gã kiêu ngạo nghĩ: “Chưởng pháp kiểu này dẫu có ba mươi chiêu mình cũng học được.”

Công Dương Vũ đọc thấu gan ruột gã bèn bảo: “Nếu ví Tam tam bộ là giương cung, thì Tam tài chưởng là ba mũi tên. Cái phức tạp nhất của Tam tài Quy nguyên chưởng không phải là cung với tên đó, mà là làm thế nào để bắn được tên kia.”

Văn Tĩnh bối rối: “Thì ra vẫn chưa xong ư?”

Công Dương Vũ nói: “Tam tam bộ tuy khó, nhưng ngươi sáng dạ đôi chút là học được. Còn tâm pháp của ta thì chỉ có thể lĩnh hội bằng cảm thụ, không thể truyền đạt bằng lời. Tam tài Quy nguyên chưởng gắn kết chặt chẽ với số Ba, tâm pháp cũng chia làm ba nội dung, Vô vọng thức2 và Thái hư thức3 rất mơ hồ, khó nắm bắt. Với tư chất của ngươi thì học được Kính tâm thức là khá lắm rồi.”

Văn Tĩnh nghe ù ù cạc cạc.

“Nói có vẻ lôi thôi, nhưng tóm lại, điểm cốt yếu của lộ chưởng pháp này là quan sát tâm ý địch thủ.” Công Dương Vũ giảng: “Nếu ngươi nhanh hơn, nhận ra kẻ thù đang toan tính gì, thì ngươi sẽ xử trí thế nào?”

Văn Tĩnh ngẫm nghĩ, bối rối đáp bừa. “Tôi có thể chạy trốn trước.”

“Chỉ biết mỗi chạy thôi.” Công Dương Vũ giận dữ: “Nếu ngươi đọc được suy nghĩ của hắn, ngươi phải nhân cơ hội phản kích chứ.”

“Phản kích ấy hả?” Hệt như nghe thấy một điều lạ lùng nhất trên đời, Văn Tĩnh trỏ vào mũi mình: “Ý ông là, muốn tôi đánh nhau với cô gái đó?”

Công Dương Vũ cau mày. “Không đánh thì thắng nó sao được?”

Văn Tĩnh nghĩ: “Tôi không đánh nhau với cô ta đâu, đành chịu chết thôi.” nhưng nhìn vẻ mặt không báo hiệu điều gì tốt lành của Công Dương Vũ, suy nghĩ sắp bật ra lời vội biến thành: “Tôi làm sao mà đoán nổi tâm ý địch thủ?”

Công Dương Vũ nói: “Ngươi khác với số đông ở chỗ đó. Ngươi biết chuyện Bá Nha Tử Kỳ chứ?”

“Biết.” Văn Tĩnh lại hào hứng: “Bá Nha tài đàn, Chung Tử Kỳ sành nghe. Bá Nha vừa gảy đàn vừa nghĩ đến núi cao, Chung Tử Kỳ bèn nói: ‘Ôi sừng sững Thái sơn.’ Bá Nha nghĩ đến nước chảy, Chung Tử Kỳ bèn nói: ‘Ôi mênh mang sông nước.’ Vì thế Bá Nha coi Tử Kỳ là tri âm, sau khi Tử Kỳ chết, Bá Nha không chơi đàn nữa.”

“Ờ.” Công Dương Vũ bảo: “Có một số người bẩm sinh giỏi đoán hiểu nhân tâm, kẻ nghe tiếng đàn đọc suy nghĩ của tài tử, kẻ ngắm tranh chữ thấu tư tưởng của hoạ gia, lại có kẻ qua chiêu thức nắm bắt tâm trạng của cao thủ võ học.”

“Nhưng thế thì liên quan gì đến tôi?” Văn Tĩnh hỏi.

“Hừ.” Công Dương Vũ nhìn gã. ”Lúc ở khách sạn Tử La4, ngươi chẳng khoa môi múa mép, huênh hoang bình phẩm tranh chữ của lão phu đấy ư?”

Văn Tĩnh trố mắt: “Ông… ông nghe thấy à?”

Công Dương Vũ cười: “Tất nhiên! Bắt đầu từ khách sạn Tử La, các ngươi nói năng gì trên đường, ta nghe rành rọt không sót một câu!” Văn Tĩnh tái mặt, ngoắt đầu muốn chạy.

Công Dương Vũ tóm gã lại: “Định đi đâu?”

Văn Tĩnh giãy giụa: “Tôi không muốn quay về đấy, không muốn làm Hoài An vương đâu.”

“Ai bắt ngươi làm Hoài An vương?” Công Dương Vũ ngạc nhiên.

Văn Tĩnh còn ngạc nhiên hơn: “Thế không phải… ông đến để bắt tôi về à?”

“Không phải.” Công Dương Vũ cười nhạt: “Nếu ngươi muốn làm Hoài An vương thật, ta thiết gì chuyện sống chết của ngươi.”

Văn Tĩnh thở phào, song lại thắc mắc hỏi ngay: “Ông không chung chí hướng với Bạch tiên sinh à?”

“Đương nhiên không. Thằng nhóc đó suốt ngày rao giảng việc ái quốc, ôm khư khư lấy tiểu triều đình Lâm An, hùng hục làm nô tài cho gã thiên tuế khốn kiếp nọ. Hừ, ta từ mặt cái hạng đồ đệ ấy lâu rồi.” Công Dương Vũ lạnh lùng nhìn trời sao, thong thả nói: “Giang sơn Đại Tống con khỉ gì, năm trăm năm trước làm gì có Đại Tống. Hoàng đế Mông Cổ cóc khô gì, hừ, một trăm năm trước làm gì có Thành Cát Tư Hãn. Lũ Mông Cổ coi mạng người như cỏ rác. Bọn quan lại Đại Tống thì bỏ mặc dân đen, chằm chặp lo giữ đất đai của họ Triệu chúng nó. Ta thấy, hai phe ấy đều là chó hoang tranh giành một khúc xương.” Nói tới đây, y thở dài: “Chỉ thương cho tính mạng dân chúng.”

Văn Tĩnh nghe vậy há hốc miệng, cảm thấy lời lẽ của nho sinh này kỳ quái vô cùng, một lúc lâu sau gã vặn: “Làm như ông không phải là dân nhà Tống ấy?”

“Phải thì sao?” Công Dương Vũ nói: “Đại Tống thối nát xập xệ. Bọn họ Triệu chỉ lo hưởng lạc, khiến quân không ra quân, tướng không ra tướng, gian nịnh nhung nhúc hoành hành nơi triều dã, xu phụ ngoại bang, hà hiếp dân chúng, trung thần lương tướng thì bị áp chế. Vương triều ấy kéo dài được đến nay cũng đã lạ lắm rồi, nhân sĩ thiên hạ đổ máu và nước mắt cho nó làm gì nữa? Dẫu có một trăm kẻ như Bạch Phác sẵn sàng hi sinh, cũng chỉ để bảo vệ lũ đỉa ăn thịt hút máu người mà thôi.”

Văn Tĩnh nghe nhức cả đầu, cảm thấy có điều bất ổn, bèn nói: “Tuy triều đình không đúng, nhưng nếu bọn Thát chiếm Đại Tống, bách tính sẽ khốn khổ. Dạo ở phương bắc, tôi và bố tôi toàn bị chúng hà hiếp.”

Công Dương Vũ im lặng hồi lâu, rồi bảo: “Ừ, triều đình của họ Triệu không đáng gìn giữ, nhưng dân chúng Đại Tống vô tội, ta hận không thể ăn gan uống máu tên hôn quân và lũ gian thần, nhưng chúng mà bị diệt, ngoại tộc sẽ thừa gió bẻ măng. Bọn Thát giết người như ngoé, chúng ra tay thì vô số lương dân phải chết. Tuy vậy, bảo vệ Đại Tống tức là bảo vệ cái triều đình ngớ ngẩn nọ, bọn chúng đêm đêm vui chơi ca hát, ngụp lặn trong xa hoa truỵ lạc, hút cạn xương máu dân đen, khiến họ cạn đường sống. Giang sơn này giữ lại cũng có ích lợi gì đâu, giang sơn này, giang sơn này…” Ông thẫn thờ ngơ ngẩn, lặp đi lặp lại mấy chữ ấy đến bảy tám lượt, bỗng hú dài, tiếng hú dữ dội ngân mãi không thôi, làm cành lá cây rừng khua lên xào xạc. Lúc ông ngừng lại, lệ đã ròng ròng.

Tiếng hú và nước mắt khiến Văn Tĩnh lúng túng. Một lúc lâu sau, gã dè dặt hỏi: “Công Dương tiên sinh! Ông… vẫn bình thường chứ?”

Công Dương Vũ lắc đầu: “Ta không sao, chỉ tại nhiều việc nghĩ mãi không hiểu. Ta nghĩ, vì sao xã tắc rộng lớn, ngàn vạn sinh linh, thành bại sinh tử… đều liên quan đến bàn tay con người? Đổng Trọng Thư nói lệnh vua là lệnh trời, ta không tin, trời nào lại xuẩn ngốc như tên hoàng đế ở Lâm An kia? Vì sao hễ có quyền là người ta dẫm đạp mọi người khác? Vì sao phải hi sinh tính mạng số đông để giữ gìn vinh nhục của một cá nhân? Vì sao cùng là người mà cắn xé giày xéo nhau, chỉ vì danh lợi mà dồn nhau đến đường cùng? Vì sao các nước lại nổi trận can qua, máu nhuộm vũ khí, biến sông núi tươi đẹp thành lò sát sinh địa ngục?” Nói tới đây, ông nhìn Văn Tĩnh: “Tiểu huynh đệ, ngươi có hiểu không?”

Bối rối trước mớ lời lẽ ấy, Văn Tĩnh thật thà đáp: “Không.”

“Ta cũng không hiểu.” Công Dương Vũ cười buồn: “Ba mươi năm nay, lúc nào ta cũng trăn trở, muốn báo đền đất nước, thì nước không ra nước, muốn thành gia thất, thì vợ con ly tán, muốn xa niềm trần tục ngao du sơn thuỷ, nhưng không làm ngơ được trước lê dân lầm than. Vì vậy cuộc đời thành ra đủ điều mâu thuẫn, loay hoay luống cuống. Người ngoài nhìn thấy võ công ta, nhưng không cảm nhận được mớ bòng bong trong lòng ta. Tiểu huynh đệ, ba mươi năm nay, chỉ có ngươi thấu hiểu nỗi phiền não ấy, qua bức tranh!”

“Nhưng… nhưng…” Văn Tĩnh ngoẹo cổ: “Quân Thát ưa chặt đầu lắm!”

“Ta đã thề độc, quyết không động một ngón tay vì bọn đế vương, Mông Cổ hay Đại Tống đều không liên quan gì đến ta.” Công Dương Vũ liếc Văn Tĩnh: “Nếu ngươi có bản lĩnh, thì bắt chước Bạch Phác đi mà làm tay sai cho đám quan phủ.”

Văn Tĩnh cười: “Đáng tiếc tôi không có bản lĩnh!”

Công Dương Vũ hừ mũi: “Ngươi học được Tam tài Quy nguyên chưởng của ta, sợ gì không có bản lĩnh? Cả thiên hạ cũng chẳng ăn ai, mấy tên đồ đệ của Tiêu Thiên Tuyệt càng không đáng kể.” Văn Tĩnh ngây người: “Lợi hại đến vậy sao?” Công Dương Vũ ngạo mạn ngửa đầu lên trời, không nhìn gã, như thể khẳng định đó là điều tất nhiên.

Văn Tĩnh vốn đã thích thú với những thứ thâm thuý khó hiểu vừa rồi, bèn năn nỉ “Vậy… vậy ông dạy tôi thêm mấy buổi nữa đi!”

“Không được!” Công Dương Vũ cau mày: “Ta còn có việc gấp. Thằng ranh con nhà ngươi đã làm lỡ bao nhiêu thời gian của ta rồi!”

“Việc gì?” Văn Tĩnh lấy làm lạ: “Mà gấp thế!”

Công Dương Vũ không đáp, nhìn sao giăng khắp trời, ánh mắt buồn rầu. Một lúc lâu sau, ông thở dài khẽ nói: “Vì sao? Vì sao? Vì sao nàng lại tránh ta…”

Văn Tĩnh ngạc nhiên: “Ai kia?”

Công Dương Vũ giật mình, trừng mắt quát: “Lắm mồm! Liên quan gì đến ngươi?”

Văn Tĩnh nghe thét phát run, im thin thít. Công Dương Vũ trầm ngâm một hồi rồi xua tay bảo: “Thôi, không nhắc đến chuyện ấy nữa. Ta truyền cho ngươi tâm pháp Kính tâm thức! Lĩnh hội được hay không là tuỳ ngộ tính của ngươi!”

Văn Tĩnh thầm nhủ: “Suy nghĩ của ông quái gở lắm, tôi chả hiểu gì cả.” nghĩ vậy nhưng không dám nói ra. Công Dương Vũ giảng một lượt, đại để là gạt bỏ hết tạp niệm, tĩnh tâm thổ nạp.

“Công phu môn phái của Tiêu Thiên Tuyệt rất kỳ ảo, thường khiến đối thủ hoa mắt, không nắm bắt được.” Công Dương Vũ nói: “Có điều, võ công tuy biến hoá đa đoan nhưng tâm ý của người xuất chiêu thì chỉ có một, nên sự biến hoá đó chẳng qua là che giấu suy tư thật của y mà thôi, vì vậy ngươi phải đạt tới mức tĩnh tại, nhìn bằng thần chứ không phải bằng mắt, đừng để ánh mắt biến đổi của đối thủ lung lạc mình, phải dùng tấm gương sáng trong ngươi để soi ra tâm tưởng của y, đạt được điều đó thì võ công lợi hại đến đâu ngươi cũng có thể ứng phó. Hiểu chưa?”

“Chưa.” Văn Tĩnh đáp: “Đằng nào thì tôi cũng không dám động thủ với bọn họ đâu.”

Công Dương Vũ mỉm cười: “Ngươi ngồi xuống đi đã, tập hít thở theo cách ta truyền cho ngươi.”

Văn Tĩnh y lời ngồi xuống, nín thở tập trung tư tưởng, thổ nạp mấy lượt, bỗng cảm thấy một bàn tay ấn lên huyệt Bách hội của mình. Giọng Công Dương Vũ vo ve như tiếng muỗi kêu vang lên bên tai gã: “Căn cơ của ngươi yếu quá, khó phát huy được chỗ ảo diệu của Tam tài Quy nguyên chưởng. Hôm nay chúng ta có duyên với nhau, ta truyền cho ngươi Hạo nhiên chính khí, chú ý nghe cho rõ đây.”

Một luồng chảy nóng bỏng từ đỉnh đầu tràn vào, lan khắp tứ chi bách hài, “Từ Dương kiều, đến Kiên tỉnh… Qua Thần khuyết, vào Hội âm… Lên Cưu vĩ, tiến Lộc quan, xoa nóng Ngọc chẩm… Đản trung chạy tiếp, Song long chia đường, đấu Bách hội, nhập Đan điền…” Cùng với giọng Công Dương Vũ, chân khí trong cơ thể Văn Tĩnh cuộn lên, chảy ùng ục, kinh mạch tê dại, không tài nào nhúc nhích được, gã đành ngồi yên lắng nghe. Công Dương Vũ nói đến đoạn: “Gồm thâu tất cả, thấu suốt mọi đường, chí dương chí đại, đó là Hạo nhiên chính khí.” thì Văn Tĩnh thấy đỉnh đầu nhẹ hẳn đi, chân khí trong mình đã vượng, sục sôi cuộn trào, liên tục lưu chuyển theo thứ tự, toàn thân ấm áp dễ chịu vô cùng, không muốn đứng dậy ngay. Chân khí lưu chuyển chín lần, Văn Tĩnh linh quang phản chiếu, đầu óc sáng láng nhẹ nhàng, tiến đến cảnh giới vô ngã.

Chẳng biết lâu hay chóng, Văn Tĩnh thoát ra khỏi trạng thái nhập định, cảm thấy khí cơ dào dạt, kình lực sung mãn. Gã ngẩng đầu nhìn quanh, trăng ngả về tây, bốn bề yên tĩnh, Công Dương Vũ đã biến mất, chỉ còn tiếng hát từ đằng xa loáng thoáng vọng lại:

“…Tửu hàm hung đởm thượng khai trương,

Mấn như sương

Hựu hà phương

Trì tiết Vân Trung

Hà nhật khiển Phùng Đường

Hội vãn điêu cung như mãn nguyệt

Tây bắc vọng

Xạ Thiên lang.5”

Tiếng hát rành rọt sang sảng, như cơn gió thổi qua rừng núi, bay đi xa vẫn ngân nga không dứt.

Văn Tĩnh ngẩng đầu nhìn trời. Đêm mênh mang, sao lác đác, duy có chòm Thiên lang ở phía tây bắc rực sáng lạ lùng, tương truyền sự xuất hiện của chòm sao này báo hiệu chiến tranh.

“Công Dương tiên sinh nói câu nào là phê phán Đại Tống câu ấy, nhưng bài ca lại ngụ ý tòng quân bảo vệ đất nước, người cũng như tranh vẽ, toàn những mâu thuẫn. Hừm, có lẽ tại ông ta chưa gặp được hoàng đế tốt chăng?” Văn Tĩnh vừa nghĩ ngợi vừa đứng dậy, thấy hai chân tê nhức, suýt ngã nhào, buột miệng lẩm bẩm: “Mặc kệ Đại Tống hay Mông Cổ, ta cứ về Hoa sơn cho sớm, khỏi bị Bạch Phác gây phiền.”

Gã lếch thếch đi lên hướng bắc, cây cối đổ bóng rung rinh trên mặt đường, âm u chờn chợn. Được một dặm, bỗng có tiếng cú rúc, Văn Tĩnh rùng mình, bất giác rụt cổ lại. Đúng lúc đó, gió nổi sau lưng, rồi một bàn tay mịn như ngọc vỗ lên vai gã…


oOo


Vầng triêu dương từ từ nhô lên khỏi đỉnh Lục Bàn sơn, hút sạch sương sớm đọng trong rừng, cây lá chỉ còn âm ẩm. Hai con dẽ chui ra khỏi vách đá đen sì, sóng đôi bay vòng vòng trên không, rìa cánh viền ánh nắng mai, phơn phớt vàng.

“Soạt,” một mũi tên kèm theo tiếng rít rợn người lao ra khỏi rừng, như tia chớp xé toạc trời xanh, xuyên ghim luôn hai con dẽ. Âm thanh ai oán ré lên giữa vòm không, đôi chim lăn qua vách đá rơi xuống mặt đất.

Tiếng móng ngựa lộp cộp. Một kỵ mã lướt tới, thiếu niên áo trắng ngồi trên ngựa giơ tay đón lấy cặp chim dẽ giữa không trung.

“Bắn giỏi lắm!” Gã nói to, gương mặt non tơ vương nụ cười khoan khoái.

Một người râu quăn cởi trần ruổi ngựa ra khỏi rừng, tay cầm cánh cung lớn dài cỡ năm thước, to bằng bắp tay, dây cung bện từ ba sợi gân bò.

Thiếu niên gọi: “Bá Nhan tướng quân!”

Bá Nhan thúc ngựa lại gần. Hai con ngựa xấp xỉ nhau, nhưng Bá Nhan cao hơn thiếu niên đến hai cái đầu, bộ tóc dài rối bời rũ xuống làn da rắn rỏi, vồng ngực rộng lấm tấm mồ hôi, nhấp nhánh sáng.

“A Thuật.” Y cười. “Em nhanh tay nhanh chân quá.”

A Thuật nhìn cánh cung của Bá Nhan, nói vẻ ngưỡng mộ: “Khi nào em mới kéo được cái cung này?”

Bá Nhan xoa đầu gã, cười: “Làm Vạn phu trưởng rồi mà còn nói năng trẻ con thế. Hôm nay đã luyện bài thương ta dạy em chưa?”

“Đã.” A Thuật nháy mắt tinh nghịch: “Tiếc nỗi không có đối thủ thử thương.”

Bá Nhan nhìn về Kiếm Môn quan lừng lững đằng xa, điềm tĩnh nói. “Sắp có rồi.”

Đúng lúc ấy, tiếng tù và đâu đó rúc lên mạnh mẽ, vang rền trên núi đồi nhấp nhô.

A Thuật nhướng mày, vẻ non tơ biến khỏi khuôn mặt trắng trẻo, thay vào đó là sát khí đằng đằng, ánh mắt dữ dội dõi theo phía hiệu lệnh.

“Bắt đầu rồi ư?” Bá Nhan nheo mắt, gác cánh cung lên vai, vỗ vai A Thuật: “Đi nào.”

“Vâng!”

Hai con tuấn mã hí lên lanh lảnh, móng ngựa nện trên đất dội vào tim như tiếng trống trận, bụi bốc mù mịt quanh vó ngựa, cuốn thẳng về phía Kiếm Môn quan.


oOo


Văn Tĩnh nghe thấy tiếng gió, không kịp nghĩ ngợi nhiều, vùng bước lên, vô thức di chuyển theo đúng đường lối của Tam tam bộ, khiến người đằng sau chụp hụt. Gã ngoái đầu nhìn, mặt bỗng xám như tro. Thân hình yểu điệu, nụ cười tươi tắn, chính là cô ả Mông Cổ nọ.

Thiếu nữ túm trượt, hơi ngạc nhiên, nhưng không bận tâm nhiều, cười chúm chím bảo: “Ngươi chạy hả? Chạy nữa đi! Hiện tại chỉ có hai ta, để xem ai giúp ngươi được nữa?”

Văn Tĩnh thấp thỏm, ấp úng hỏi: “Cô… làm sao tìm thấy tôi?”

Thiếu nữ huýt sáo, một vật đen đen từ trên không sà xuống, đậu lại trên cánh tay cô ta. Trong tinh sương mờ ảo, Văn Tĩnh trông thấy rõ đó là một con kền kền dài cỡ hai thước, bộ dạng hung ác, sát khí đằng đằng, hoàn toàn trái ngược với dung nhan diễm lệ của thiếu nữ, đúng là người đẹp và quái vật, không dưng điểm một nét kinh dị vào buổi sớm mai.

“Nó dẫn đường cho ta.” Cô gái cười: “Ngươi không chạy được đâu.”

Văn Tĩnh lấy làm lạ: “Nó dẫn đường được ư?”

“Tất nhiên.” Thiếu nữ đắc ý bảo: “Ban tối lúc chạm vào ngươi, ta đã rắc Thiên lý hương lên người ngươi, dù ngươi có chạy mấy chục dặm cũng không thoát được sự truy đuổi của con kền kền này.”

Quạ và kền kền có khứu giác thính nhạy nhất trong các loài chim, biết dựa vào mùi người hoặc súc vật toả ra từ đằng xa để nhận biết xem đối tượng còn sống hay đã chết, khứu giác của chúng còn nhạy hơn cả loài chó. Văn Tĩnh vừa đi vừa ẩn náu, nào ngờ chẳng có tác dụng gì trước ngón đòn ấy của thiếu nữ.

Cô gái nhích vai, con kền kền bay lên, biến vào bầu trời mờ tối.

Cô ta cười hỏi: “Công Dương Vũ dạy ngươi thứ võ công gì vậy? Ta muốn xem xem.”

Văn Tĩnh kêu lên: “Ối chà.” rồi gọi với ra phía sau thiếu nữ: “Công Dương tiên sinh.”

Thiếu nữ giật mình ngoái đầu trông, thấy vắng ngắt không một bóng người, hiểu mình bị đánh lừa, liền ngoảnh phắt đầu về. Văn Tĩnh đang guồng chân chạy trốn.

Thiếu nữ nổi giận tung mình bay lên, vung chưởng chém theo gáy Văn Tĩnh. Gã trai nảy mình, bước xéo đi. Bàn tay thiếu nữ chệch mục tiêu, rơi vào khoảng không, cô ta kinh ngạc, lập tức bật lui đá liền bảy cước, nhằm vào những chỗ yếu hại khắp người Văn Tĩnh. Văn Tĩnh tiến ba bước, lùi ba bước, tựa chiếc lá bay nương theo đòn chân như cuồng phong của thiếu nữ. Bảy cước tung ra hết mà không chạm được tới chéo áo Văn Tĩnh.

“Ngộ đấy.” Thiếu nữ cười khanh khách, đưa hai tay lên, nhẹ nhàng và chậm rãi, thi triển Như Ý Ảo Ma thủ, đôi tay thiên biến vạn hoá, chỉ thoáng chốc đã hãm Văn Tĩnh vào trong.

Vô vàn cánh tay múa kín trước mặt Văn Tĩnh, như cảnh tiên nữ rắc hoa, nhìn rối cả mắt. Trong lúc hoảng loạn, Văn Tĩnh trúng một chưởng vào vai, ngã bật ra ngoài bốn thước. Gã lồm cồm bò dậy, đi hơn mười bước lại lĩnh một cước vào gò má, bay ra xa hơn trượng, ngã bộp xuống đất.

Thiếu nữ bĩu môi: “Thế thôi ư? Công Dương Vũ cũng chỉ có vậy.” Thấy Văn Tĩnh ngã sấp, nằm im không nhúc nhích, cô ta lại bảo: “Thằng ranh, lần này ta ra đòn có cân nhắc nặng nhẹ, ngươi đừng hòng giả chết lừa ta.”

“Sai rồi!” Mặt vục trong đất nhão, Văn Tĩnh lúng búng nói.

Thiếu nữ lấy làm lạ: “Sai cái gì?”

Văn Tĩnh bò dậy, ngồi xếp bằng, chống má trầm ngâm: “Đúng là sai rồi.”

“Trò lừa đảo gì nữa đây?” Cô gái sốt ruột, lắc mình tới, điểm ngón tay nhỏ thon vào Nhuyễn ma huyệt của Văn Tĩnh, ai ngờ trượt vào khoảng không, Văn Tĩnh đã vòng về mé lưng cô ta tự lúc nào. Cô gái cả kinh trở chân móc ngược ra sau, Văn Tĩnh lại vòng lên trước mặt. Cô gái thét lớn, tay đấm chân đá, xuất liên tiếp năm chiêu, Văn Tĩnh nhanh như bóng ma, thoắt ẩn thoắt hiện giữa màn quyền cước loang loáng. Thiếu nữ không đánh trúng lần nào, cảm thấy bất ổn, gắng lên tinh thần, dốc hết bản lĩnh. Thế tấn công như gió táp mưa sa, trút ào ào xuống Văn Tĩnh.

Như Ý Ảo Ma thủ là một chiêu thức lợi hại trong võ lâm, biến hoá vô cùng kỳ lạ, thiếu nữ lại xuất toàn lực, Văn Tĩnh tuy lĩnh hội được chút ít công phu nhưng gặp toàn hiểm chiêu đâm lúng túng, ngực bị phớt một chưởng, gần như nghẹn thở, quíu cả chân. Mọi chỗ yếu hại trên mình gã đều bị kiềm chế trong hai tay thiếu nữ.

Gã thiếu niên gắng gượng tìm đường sống, tuy đang trong vòng nguy hiểm nhưng vẫn hết sức chuyên chú đến sự biến ảo của lộ chưởng pháp, gạt bỏ tạp niệm, chỉ mong nắm lấy một tia sống sót, vô hình trung lại phù hợp với tâm pháp ‘nhìn bằng thần không nhìn bằng mắt’. Lòng sáng như gương, soi thấu tâm tưởng đối thủ.

Mỗi chiêu của thiếu nữ có tám phép biến hoá, trong đó bảy hư một thực. Văn Tĩnh đang gặp bước đường cùng, vốn dĩ không đỡ nổi, nếu trúng một chưởng của cô nàng thì không chết cũng bị thương nặng, lạ một nỗi, cứ mỗi lần bàn tay mịn màng của thiếu nữ còn cách huyệt Đản trung của gã năm tấc thì lại trượt đi, dịch sang ngang hai tấc.

Sự biến hoá vi diệu ấy tuy chỉ thoáng chốc, nhưng không thoát được tâm kính của Văn Tĩnh. Gã xuất thủ xong, tựa hồ đứng không vững, loạng choạng ngã chúi lên trước, luống cuống hoa chân múa tay, tưởng chừng hoảng loạn, thực ra là nhắm mục tiêu, đặt ngay một chưởng lên Thần phong huyệt của thiếu nữ, chính là Nhân tâm hoàng hoàng, chiêu thứ nhất trong Tam tài Quy nguyên chưởng.

Thiếu nữ hoàn toàn bất ngờ, một vì gã biết tận dụng sơ hở để phản kích; hai vì gã không lùi mà lại tiến; ba vì gã xuất chiêu trông không theo chương pháp gì cả, thực chất lại có sự ảo diệu riêng, cô ta cố gắng né tránh, vẫn bị gã đánh trúng chỗ yếu hại; bốn vì trong chưởng lực của gã lại có một dòng chảy ngầm kỳ quái, phá vỡ Huyền Âm Ly Hợp thần công, phong bế huyệt đạo của cô ta.

Trao đổi xong một chiêu, hai người cùng lùi bật về sau, ngã xuống đất, bất động, vùng núi lặng đi, không một âm thanh.

Hồi lâu, Văn Tĩnh thở mạnh, lồm cồm bò dậy, cảm thấy xương sườn đau nhói, hình như đã gãy mất một dẻ.

Gã chậm chạp đi đến gần thiếu nữ, thấy cô ta trợn đôi mắt đẹp nhìn mình chằm chằm, nhăn nhó bảo: “Cô ra tay mạnh quá.”

“Phì!” Thiếu nữ không nói được, nhưng trong bụng chửi rủa tàn tệ: “Thằng chó má, không biết dùng ngón quỷ quái gì mà điểm huyệt được mình?” Vừa rồi cô ta liên tục vận nội công xung khai huyệt đạo, Huyền Âm Ly Hợp thần công của Hắc thuỷ nhất quái là tâm pháp nội công đỉnh cao, tâm ý chuyển đến đâu, chỗ đó hoặc cứng như sắt luyện, hoặc mềm như nước, chưởng lực bình thường không thể làm cô ta bị thương mảy may, nhưng dòng ngầm của Văn Tĩnh không chỉ phá vỡ lớp thần công hộ thể, mà còn như một thứ bông mềm nhẽo thút nút ở đó, cô ta xung khai ba lần liên tục, vận sức rất khó khăn, cuối cùng Văn Tĩnh lại đứng dậy được trước, khiến cô ta tức giận vô cùng.

Văn Tĩnh ho rũ rượi, khạc ra một bãi máu. Ngắm thiếu nữ một lúc, gã cười: “Trông cô thế này ưa nhìn lắm, nếu đừng trừng mắt với tôi, nhất định còn ưa nhìn hơn nữa!”

Thấy Văn Tĩnh ngó mình chằm chằm, cô gái chỉ hận không thể rứt thịt gã ra. “Thằng khốn kiếp.”

“Một cô gái đẹp thế này, vì sao cứ muốn đánh giết?” Văn Tĩnh cau mày: “Cô phải lo thêu thùa mới đúng.”

Thiếu nữ rủa thầm: “Thêu cái của khỉ! Thêu vào cái mặt ngươi ấy!”

“Hoặc ngồi bên song ngắm trăng.” Văn Tĩnh mơ màng nói: “Quyển khởi thuỷ tinh liêm, Linh lung vọng thu nguyệt.6 Gảy đàn cũng hay, Hàm tình lộng nhu sắt, Đàn tác mạch thượng tang.7 Ờ, hái dâu cũng tốt, Tố thủ thanh điều thượng, hồng trang bạch nhật tiên8. Người đẹp như cô làm gì cũng được, chỉ cần đừng đánh đấm mà thôi.”

“Thằng cha này đang sủa lăng nhăng gì thế, nhưng mà, hắn luôn miệng nói ta xinh đẹp, thật ư?” Cô gái thầm nghĩ: “Sư phụ và hai sư huynh chưa bao giờ nói ta đẹp cả.”

“Chỉ cần cô hứa với tôi, sau này đừng đánh nhau với người nào nữa, tôi sẽ thả cô.” Văn Tĩnh bảo: “Nếu đồng ý thì cô chớp mắt ba cái.”

Thiếu nữ trợn mắt im lặng.

Một lúc lâu sau, Văn Tĩnh thở dài: “Thôi vậy, không chấp cô. Tôi thả đây, cô không được gây sự với tôi nữa đâu đấy, nếu đồng ý thì chớp mắt ba cái, nếu không tôi chỉ còn nước bỏ đi thôi.”

Thiếu nữ không muốn bị vứt lại ở nơi quỷ quái này, bèn chớp mắt ba cái. Văn Tĩnh vỗ vào huyệt đạo, cô gái nhảy cẫng lên, vung quyền toan đánh, Văn Tĩnh la lối: “Cô muốn nuốt lời hứa ư?”

Thiếu nữ dừng tay, rồi bỗng thò ngón trỏ, điểm lên huyệt Thái uyên của Văn Tĩnh. Gã thiếu niên đã bị thương nặng, không tránh kịp, ngấm ngầm than thở: “Ta ngốc quá đi thôi. Thả ả sát tinh này ra, đúng là gây tội nghiệt, chết mất.”

Thiếu nữ nghiêm mặt, ấn ngón tay lên xương sườn Văn Tĩnh, đưa đoạn xương gãy trở lại đúng vị trí, rồi bẻ hai cành cây, xé áo quấn chặt vào cho gã. Văn Tĩnh đau toát mồ hôi, thầm kinh ngạc: “Vì sao cô ta lại giúp mình nối xương?”

Thiếu nữ hừ mũi: “Đánh kẻ bị thương thì chẳng hay ho gì. Đợi ngươi lành lặn rồi nện cho một trận cũng còn kịp.” Nói xong giải huyệt cho Văn Tĩnh, đứng dậy, quay mình bỏ đi.

“À, cô… cô tên là gì?” Văn Tĩnh hỏi với theo.

Thiếu nữ lạnh lùng nói: “Ngươi hỏi để làm gì?”

“Để lần gặp sau dễ gọi.” Văn Tĩnh lúng búng trong miệng, mắt đảo đảo.

“Lần gặp sau là ngày giỗ của ngươi đấy.” Thiếu nữ cười khẩy bỏ đi, được mấy bước ngoái đầu lại bảo: “Tên tiếng Hán của ta giống với sư phụ, là Tiêu…”

“Tiêu Ngọc Linh hả?” Văn Tĩnh buột miệng.

Tiêu Ngọc Linh tỏ vẻ kinh ngạc. “Sao ngươi biết?”

“À!” Văn Tĩnh đáp: “Ta nghe sư huynh cô gọi cô là Ngọc Linh.”

“Trí nhớ ngươi tốt đấy.” Tiêu Ngọc Linh hững hờ nói. Nghe giọng điệu, Văn Tĩnh không rõ cô ta đang khen ngợi hay mỉa mai mình.

Lúc ấy, trên trời bỗng có tiếng chim ré lên chói tai, Tiêu Ngọc Linh biến sắc, cau mày nói nhỏ: “Con súc sinh lông lá này thật đáng chết, lại tiết lộ hành tung của ta.”

Ngọc Linh vừa dứt lời, một bóng đen đã lướt đến. Tiêu Lãnh xuất hiện trước hai người, mặt không biểu lộ gì. Con kền kền đáp xuống, đậu trên vai y. Tiêu Lãnh quăng ra một tảng thịt khô, con chim đớp lấy, nuốt đánh ực, rồi dang cánh bay lên.

Sau hồi lâu im lặng, Tiêu Lãnh cất tiếng: “Em tự tung tự tác quá đấy.”

Tiêu Ngọc Linh cong môi, không màng trả lời.

Tiêu Lãnh lúng túng, nhìn sang thấy Văn Tĩnh, y cau mày hỏi: “Ngươi ở đây ư? Tốt lắm.” rồi nhấc chân, bước lại gần gã.

Ngọc Linh cười nhạt: “Anh định giết hắn ư?”

“Tất nhiên.” Tiêu Lãnh đáp: “Bất kể thật giả đều phải giết.”

“Nhưng hắn đang bị thương. Anh giết hắn cũng chả vẻ vang gì.”

“Dù hắn có không bị thương thì cũng đâu phải là đối thủ của ta?”

Văn Tĩnh mặt xám như tro tàn. Tiêu Ngọc Linh liếc gã: “Chưa chắc đâu. Em hỏi nhé, anh dự tính trong mấy chiêu thì lấy được mạng hắn?”

“Một đao là đủ.” Tiêu Lãnh đanh giọng.

Ngọc Linh cười khanh khách: “Được, vậy chúng ta đánh cuộc.”

“Cuộc thế nào?” Tiêu Lãnh cau mày.

“Em cuộc nếu hắn không bị thương, ít nhất cũng đi được ba chiêu dưới Hải Nhược đao của anh.”

Mắt Tiêu Lãnh loé lên: “Em coi thường ta thế sao?”

“Rườm lời làm gì, anh dám đánh cuộc không đã?”

Tiêu Lãnh nghe khích chạm tự ái “Sao lại không dám?”

“Nếu anh thua thì thế nào?”

“Ta thua sao được!” Tiêu Lãnh tự tin nói: “Nếu ta thua, tất nhiên sẽ tha mạng cho hắn, và từ đó trở đi, sẽ không bao giờ đặt chân lên đất trung nguyên nữa.” Nói tới đây, y nhìn Văn Tĩnh, cau mày: “Nhưng thương tích của hắn…”

“Đợi hắn bình phục không được sao?” Ngọc Linh điềm tĩnh hỏi.

“Làm gì có chuyện ấy?” Tiêu Lãnh bực dọc: “Mai ta vào Xuyên rồi, rỗi hơi mà đợi hắn khỏi, hừ, cho một đao đỡ lôi thôi.” Văn Tĩnh nghe thấy, đau nhói cả tim, cảm nhận được sát khí dày đặc trên người Tiêu Lãnh, bất giác thụt lùi.

Ngọc Linh cười nửa miệng: “Anh sợ hắn bình phục rồi, sẽ thua cược với em phải không?”

Tiêu Lãnh vốn tính kiêu ngạo, trầm ngâm một lúc rồi bảo: “Thế này vậy. Ta đem hắn đi theo, đợi lành bệnh rồi lấy mạng hắn cũng không muộn.”

Văn Tĩnh và Ngọc Linh cùng sững người.

Ngọc Linh gượng cười: “Cũng được. Nhưng tên ngốc này phiền toái lắm đấy, mang đi e mệt anh.”

Tiêu Lãnh hừ mũi: “Em mà thua, sau này phải ngoan ngoãn nghe lời ta!”

Ngọc Linh cười: “Vâng.”

Tiêu Lãnh rút từ ngực áo ra một cái bình ngọc, quát Văn Tĩnh: “Há miệng.”

Văn Tĩnh trù trừ, nhưng không địch nổi khí thế của đối phương, đành há miệng. Tiêu Lãnh vẩy tay. Một chấm đỏ bắn sang. Văn Tĩnh thấy nó tan ra, trôi xuống bụng, toả hương thơm ngát, toàn thân khoan khoái, cơn đau ở ngực cũng thuyên giảm phần nào.

Ngọc Linh bấm Văn Tĩnh. “Thằng ngốc! Mau tạ ơn vì Huyết Ngọc Hoàn Dương đan của sư huynh ta đi, linh dược trị thương đấy.”

Tiêu Lãnh đanh mặt, hừ mũi, ngoắt đầu bước đi. Ngọc Linh đi theo, bảo Văn Tĩnh vẫn đang đứng đực một chỗ: “Còn đợi gì? Đợi đao kề cổ mới chịu đi hay sao?”

Văn Tĩnh cúi đầu buồn bã, vừa bước vừa hối hận nhủ bụng: “Sớm biết thế này thì đã không rời khỏi khách sạn.”

Hết chương 3




1 Nguyên văn: Thạch toả công, là môn ngạnh công của Thiếu Lâm tự, dùng để luyện sức mạnh cánh tay. Dụng cụ là một cái khoá hình chữ nhật có dóng ngang, giống khoá cửa xếp ngày nay, nhưng không có lỗ tra chìa và lò xo, thường làm bằng đá hoa cương hoặc đá xanh, nhỏ thì 10 cân, lớn thì 30-35 cân.

2 Hiểu một cách tự nhiên, không cưỡng cầu

3 Hiểu một cái gì đó rất siêu hình

4 Nguyên văn có lầm lẫn, vì trong chương 1 nói tên khách sạn là Ba Sơn chứ không phải Tử La. Tôi sẽ kiểm chứng và sửa lại theo bản in sách khi nào có điều kiện.

5 Nửa dưới bài từ Mật Châu xuất liệp, theo điệu Giang Thành tử của Tô Thức.

Dịch nghĩa:

Ta tuy say nhưng trái tim hào hứng, can đảm tràn đầy,

Tóc mai lốm đốm pha sương, có hề chi?

Khi nào phái người cầm tiết phù đi biên cương Vân Trung, giống như Hán Văn Đế phái Phùng Đường.

Ta sẽ dùng hết sức kéo căng cung, nhìn về hướng tây bắc, nhằm bắn sao Thiên lang.

Nửa trên của bài từ này kể chuyện đi săn ở Mật Châu (nơi Tô Thức nhậm chức tri châu khi vừa 40 tuổi). Nửa dưới nhắc đến chuyện chinh chiến, bày tỏ tráng chí của tác giả. Sao Thiên lang ở đây chỉ nước Tây Hạ, năm 1070 cử binh đánh hai châu Hoàn, Khánh của nhà Tống.

6 Nghĩa: Cuốn bức rèm châu, ngắm trăng thu mờ ảo.

7 Nghĩa: Mang tâm sự múa trên tơ trên phím, đàn dạo khúc nương dâu. (?) (Trích từ bài thứ hai trong Nghĩ cổ Thập nhị thủ của Lý Bạch).

8 Nghĩa: Tay trắng vịn cành xanh, Má hồng trong ánh nắng (Trích từ bài thứ nhất trong Tử Dạ tứ thời ca của Lý Bạch)

Tài sản:


[Xem tất cả tài sản]
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
quynhmi
bài viết 29 Aug 09 01:24
    Gửi vào: #5
Ông Trùm Thành viên thứ: 242878 Tiền mặt: 98917050
Group Icon Tham gia: 1-March 09 Được cám ơn: 83
Nhóm: Members Bài viết: 1113 No Yahoo Messenger
Chương 4 – Điệp luyến hoa


Tiếng trống trận văng vẳng. Trương Hà nghe thấy, cau rúm mày.

Một tên thuộc hạ vội vã chạy vào: “Đô thống chế! Bạch tiên sinh đến!”

Trương Hà nhìn ra, trông thấy Bạch Phác đi cùng ba người nữa, bèn tươi tỉnh gọi: “Thiên tuế đến đó chăng?”

Bọn Bạch Phác nhìn nhau, xám mặt.

Trương Hà thắc mắc: “Đã xảy ra chuyện gì vậy?”

Bạch Phác gượng đáp: “Thiên tuế chưa đến.” Cả bốn người cùng thầm mạt sát Văn Tĩnh tơi tả.

Trương Hà chực thở dài, bỗng thấy cờ xí rầm rập đằng xa, che kín một góc trời, bèn nín thở lại. “Cuối cùng cũng đến.” Y đứng thẳng người lên, giơ lệnh kỳ định phát hiệu, lại trông thấy xa tít có một người cưỡi ngựa phi như bay, tay cầm một cánh cung ngắm thẳng lên đầu thành.

“Người kia làm gì đó?” Nghiêm Cương lấy làm lạ: “Định bắn tên chăng? Xa thế này cơ mà, hoang đường…”

Lương Thiên Đức tái mặt kêu: “Không hay rồi!”

Vừa dứt lời, đã nghe thấy một tiếng phập, mũi tên đuôi lông vũ nhọn hoắt rời cung bật thẳng tới vọng lâu.


oOo


Tiêu Lãnh, Ngọc Linh và Văn Tĩnh xuyên rừng bạt suối, nhằm những nẻo hoang đường vắng mà đi. Cứ được một chặng, Tiêu Lãnh lại lấy bản đồ da dê ra xem. Đường núi càng lúc càng hẹp và hiểm trở. Hai anh em họ Tiêu đi như gió cuốn, chỉ khổ Văn Tĩnh thở hồng hộc như trâu, tim đập thình thịch, chỉ sợ lỡ chân rơi xuống khe.

Đến trước một vực sâu, mọi người tạm dừng bước. Ngọc Linh nói: “Tiêu Lãnh, hình như chúng ta đi lạc rồi.”

“Không đâu.” Tiêu Lãnh đáp: “Phía trước chính là đường Âm Bình.”

“Đường Âm Bình?” Văn Tĩnh xen vào: “Là nơi Đặng Ngải lén vượt núi đấy chăng?”

Ngọc Linh lấy làm lạ: “Đặng Ngải? Y là ai vậy?”

Văn Tĩnh bèn thuật lại điển cố Đặng Ngải lén vượt Âm Bình thời Tam quốc, phá vỡ Miên Trúc, ép Hậu chủ Lưu Thiện phải đầu hàng nước Nguỵ. Gã có biệt tài kể những chuyện thuộc dạng ấy, ngôn từ sinh động, mô tả phong phú, Ngọc Linh nghe rất say sưa, Tiêu Lãnh cũng phải chăm chú theo dõi.

“Đáng tiếc, được chim bẻ ná, được cá quên nơm! Kết cục của vị tướng giỏi đó cũng chẳng tốt đẹp gì.” Văn Tĩnh thở dài.

“Đều tại thằng cha Chung Hội cả.” Ngọc Linh nhận xét, “Thế là hết rồi ư?”

Văn Tĩnh lắc đầu: “Chưa đâu. Về sau còn có Dương thúc tử giữ Tương Dương dâng biểu phạt Ngô, Vương Tuấn làm thuyền lầu đốt cháy hết xích sắt giăng dưới sông, tiến quân tới Thạch Đầu thành, cuối cùng họ Tư Mã thống nhất thiên hạ. Hừ, những chuyện này chẳng thú vị gì, hay nhất phải kể từ chuyện ba anh em Chiêu Liệt hoàng đế kết nghĩa vườn đào kia.”

Ngọc Linh vỗ tay reo: “Ái chà! Ta ưa những chuyện ấy vô cùng. Trước đây dạo đi đường, có nghe thuyết thư tiên sinh kể một đoạn, thú lắm, chỉ tại sư huynh giục giã đăng trình khiến ta không được nghe hết. Ngươi kể còn hay hơn thuyết thư tiên sinh nhiều, được đấy, bắt đầu từ chuyện bốn anh em kết nghĩa vườn đào đó đi…”

Văn Tĩnh lập tức sửa: “Ba.”

Ngọc Linh trừng mắt: “Ta nói bốn là bốn. Bốn nhiều hơn ba, mà càng nhiều thì càng tốt.”

Văn Tĩnh dở khóc dở cười, đành thuận theo ý cô gái, cũng may đó chỉ là sự cao hứng nhất thời, cô ta không so đo mấy về số người kết nghĩa. Văn Tĩnh kể một mạch, đến tận lúc mặt trời xuống núi, Tiêu Lãnh mới sực tỉnh, giục hai người lên đường. Ngọc Linh dằn dỗi, cãi vã inh ỏi một hồi.

Cứ thế, ba người vừa đi vừa nghỉ, chỉ dồn nửa sức đi đường, còn nửa sức để dành nghe chuyện. Văn Tĩnh kể đến đoạn sau, hầu như toàn là bịa đặt, được cái gã đọc kha khá sách, bịa rất trơn tru. Ngọc Linh thường ngày vẫn giữ thái độ hung hăng với Văn Tĩnh, nhưng hễ nghe chuyện thì tỏ ra khác hẳn, gặp chỗ hài hước thì cười khanh khách, gặp chỗ hồi hộp lộ vẻ căng thẳng, cặp mắt đẹp nhìn gã chăm chắm không rời. Đôi lúc nghe những đoạn không vừa ý, cô ta lại phụng phịu, chẳng hạn bất mãn trước việc Điêu Thuyền phải lấy Đổng Trác, cô ép Văn Tĩnh sửa đổi nội dung, đầu tiên cho Điêu Thuyền gá với Lã Bố, về sau ghét Lã Bố là hạng tiểu nhân, bèn ép Văn Tĩnh đưa Điêu Thuyền sang cho Tào Tháo, rồi thấy Tào Tháo làm nhiều điều gian trá, lại sắp xếp Điêu Thuyền cho Lưu Bị, cuối cùng cho rằng Lưu Bị đạo đức giả, bèn đá văng ông ta đi. Thành ra Điêu Thuyền lấy chồng ba lần, cuối cùng vẫn là hoàng hoa khuê nữ trướng rủ màn che chờ người tới hỏi. Văn Tĩnh nhăn nhó, nhưng vẫn phải căng óc thay chỗ này đổi chỗ kia để nàng vừa lòng.

Hai người nói nói cười cười, và Văn Tĩnh chẳng có vẻ giống một tên tử tù gì ráo, Tiêu Lãnh rất bực, song bản tính kiêu ngạo, dù không bằng lòng y cũng giữ thể diện, làm ra bộ mặt khinh khỉnh. Hiềm nỗi Ngọc Linh cố ý trễ nải hành trình, thành thử họ tiến còn chậm hơn sên, cứ mãi như thế, chỉ e sẽ lỡ dở việc chính. Điều khiến Tiêu Lãnh tức giận nhất là Ngọc Linh cư xử với Văn Tĩnh mỗi ngày một thân mật, làm cơn ghen của y trỗi dậy. Cái tình Tiêu Lãnh dành cho Ngọc Linh đã vượt qua tình anh em từ lâu, Tiêu Thiên Tuyệt cũng nhận ra, vì vậy mới để Ngọc Linh theo sư huynh lặn lội đường xa xuống nam, mong hai người sớm chiều bầu bạn mà trở nên gần gũi. Tiêu Lãnh tính tình trầm lặng hệt như Tiêu Thiên Tuyệt, nên tuy yêu mến sư muội vô vàn y vẫn không nói ra, nay nhìn hai người trò chuyện rôm rả, lòng y chua xót như bị dao cứa, thoạt tiên còn gắng gượng kiềm nén, về sau không chịu đựng nổi, y cắt ngang câu chuyện của họ, mắng mỏ Văn Tĩnh, bắt gã đi nhặt củi nhóm lửa.

Văn Tĩnh không dám cưỡng, bèn ngoan ngoãn thi hành. Ngọc Linh nghe đến đoạn gay cấn cảm thấy bứt rứt, không muốn bị ngắt quãng nên kè kè theo sát, giúp gã nhặt củi, vừa nhặt vừa bảo gã kể. Hai người di chuyển, nhích qua nhích lại, chen vai thích cánh, đôi lúc đầu áp má kề hệt như một cặp tình nhân. Tiêu Lãnh giận ứa gan, tuốt Hải Nhược đao ra khỏi vỏ, vốn muốn chém Văn Tĩnh, nhưng hiểu tính sư muội, biết rõ cô ta nổi trận lôi đình còn dữ dội hơn cả mình, nếu bây giờ chém phăng tên kể chuyện này đi, chắc hẳn cả đời con bé sẽ không thèm để ý đến y nữa. Tiêu Lãnh là dũng sĩ hạng nhất dưới tay Mông Ca. Trong trướng vàng Mông Cổ, sức mạnh của y áp đảo rất nhiều người, uy danh chấn động đại mạc, thống lĩnh đông đảo thuộc hạ lợi hại, nhưng lúc này đành chịu bất lực trước một tên nhãi ranh bẻm mép, không biết xử trí thế nào, y khó chịu vô cùng, bứt tóc bứt tai tức tối, tìm cách hành hạ Văn Tĩnh, bắt gã làm cái này cái nọ, nhưng Ngọc Linh luôn theo sau gã, càng ra sức giúp đỡ, hai người mỗi lúc một thân mật.

Cả ngày Văn Tĩnh và Ngọc Linh chỉ mải mê với chuyện, Tiêu Lãnh giận tím ruột bầm gan, ngồi ra xa định đả toạ, nhưng nghe tiếng cười của Ngọc Linh thì không thể tập trung được tinh thần. Ngồi một lúc, chợt thấy nàng kêu lên thích thú, y nhói lòng, khó khăn lắm mới bình tâm lại được. Tiếng Văn Tĩnh kể rất hăng văng vẳng vọng tới, truyện đang đến đoạn Quan Vân Trường xông xáo giữa trăm vạn quân giết chết Nhan Lương, Văn Xú. Tiêu Lãnh nghe vậy, không kìm được ngắt lời: “Làm gì có chuyện đó? Chính thầy ta xuất thủ cũng chưa chắc đã có thể đánh xuyên qua đại quân đông đảo để chặt lấy thủ cấp chủ soái như thế. Chẳng hay Quan Vũ sử dụng phương cách gì?”

Văn Tĩnh nói bịa thành quen, tiện miệng chế ra một cái tên: “Binh khí của ông ấy là Thanh Long Yến Nguyệt đao, tất nhiên phải dùng Thanh Long đao pháp.”

Tiêu Lãnh nhướng mày, vẻ không phục, “Ồ? Vậy Thanh Long đao pháp có truyền nhân hay có lưu truyền hậu thế không? Ta muốn gặp người đó xem sao.” Nói tới đây, y đứng dậy, trừng mắt bảo Văn Tĩnh: “Nghe giọng ngươi sung mãn lắm, chắc đã bình phục rồi. Hãy đỡ ta ba đao! Để xem công phu quyền cước của ngươi có ghê gớm như cái miệng ngươi không?”

Văn Tĩnh trố mắt cứng miệng. Ngọc Linh hồi hộp thầm nhủ: “Tên này đang kể đến chỗ hay, không thể để hắn chết!” bèn cười bảo: “Người ta vừa kêu là đau ngực đấy còn gì! Sư huynh ơi! Chính ra thời gian gần đây anh em mình đều trễ nải võ nghệ, bây giờ đã nhắc tới, thôi thì đấu thử một hiệp xem nào.”

Tiêu Lãnh nghe vậy phấn chấn nhủ bụng: “Động võ thì nhất định là ta giỏi hơn!” lập tức trúng kế, hân hoan gật đầu.

Ngọc Linh nhìn Văn Tĩnh bĩu môi: “Gã này thì làm thế nào đây? Bắt hắn lánh mặt ư?”

Tiêu Lãnh chẳng coi Văn Tĩnh vào đâu, nghe vậy bảo: “Không sao, hắn có xem cũng mù tịt thôi.”

Ngọc Linh cười khúc khích: “Anh không sợ thua em, mất mặt trước người ngoài à?”

“Hừ!” Tiêu Lãnh cười nhạt: “Có bản lĩnh thì thử đi.”

Ngọc Linh lấy đoản đao ra khỏi tay áo. “Nói thế đủ rồi. Anh không được dùng đao đâu đấy.”

Tiêu Lãnh thõng tay xuống: “Tất nhiên.”

Ngọc Linh cười chúm chím, người và đao hoà làm một, đao quang như thác đổ tràn về phía Tiêu Lãnh. Ngọn đao đi được nửa chừng, cô ta thét lên: “Xem đây!”

Thấy sư muội nghịch trò trẻ con, Tiêu Lãnh nhếch mép cười nhạt. Y nghiêng người, vung chưởng chém xuống sống đao Ngọc Linh.

Ngọc Linh uốn mình theo thế giao long phiên thân, xoay vù vù, đoản đao múa tít tạo thành một bánh xe như đoá sen trắng, theo sát bàn tay Tiêu Lãnh.

“Khá lắm.” Tiêu Lãnh có vẻ e ngại, động tác rất nhanh, thoắt một cái đã lùi ra xa tám thước, thoát khỏi phạm vi của mũi đao. Ngọc Linh lật mình tiếp đất, còn chưa đứng vững, Tiêu Lãnh đã chớp chân, tới sát trước mặt cô, giơ tay toan đoạt lấy đoản đao. Ngọc Linh chếch mũi đao, vung tả chưởng chém vào ngực đối phương. Hai người vốn là đồng môn, quen thuộc chiêu thức của nhau, vì vậy xuất thủ thần tốc, mau chóng hiển lộ bản lĩnh, chiết hơn một trăm chiêu.

Thoạt đầu, Văn Tĩnh thấy Ngọc Linh gặp toàn ngón hiểm, hơi lo lắng cho nàng, nhưng xem một lúc lâu, nhận ra Tiêu Lãnh tuy chiếm thượng phong, nhưng hễ tới điểm là lập tức ngừng lại, biết y sẽ nương tay nên thở phào, đồng thời trong lòng lại nảy ra một ý nghĩ, nếu y dùng chiêu này tấn công ta, ta phải né tránh thế nào trong bốn mươi lăm bước đó. Gã vừa nghĩ vừa hình dung ra Cửu cung đồ ở vị trí giao đấu của hai người. Nhìn mỗi lần họ xuất chiêu, gã nghĩ ngay đường đi nước bước, cách hồi thủ phản kích, mau chóng gạt bỏ hết mọi chuyện bên ngoài, đứng đực ra chỉ nghĩ đến võ công, không còn gì khác. Gã nhận thấy võ công biến ảo khó lường của hai người giống hệt với bức tranh chữ bằng mực đen tung hoành phóng khoáng của Công Dương Vũ, những chiêu thức ấy đủ để gã nhận ra hư thực trong tâm tư tinh thần đối phương.

Cứ thế, như được tiếp xúc với một môn học sâu xa khó hiểu, Văn Tĩnh càng xem càng thấy ảo diệu, càng nghĩ càng thấy lạ kỳ, đắm chìm trong Cửu cung đồ không bứt mình ra được.

Hai anh em đấu chừng bốn năm trăm chiêu, Ngọc Linh mồ hôi mướt mát, nhảy vọt về sau năm thước kêu lên: “Không đánh nữa.”

Tiêu Lãnh thấy cô ta lộ vẻ mệt mỏi, bèn bảo: “Cũng được, hôm nay tạm thế đã.”

Ngọc Linh ngoái đầu trông. Văn Tĩnh đang thẫn thờ nhìn thẳng ra trước mặt, im lìm như một pho tượng. Ngọc Linh lấy làm lạ tự hỏi: “Gã đần này, đang nghĩ gì vậy?” vừa nói vừa tiến lại gần, giơ sống đao ra gõ vào vai gã. Nào ngờ chưa chạm đến, người Văn Tĩnh đã quay tít, tả chưởng vạch một đường cong huyền diệu, thuận thế lướt khỏi sống đao. Ngọc Linh không kịp đề phòng, hổ khẩu thoắt nóng ran, tay cầm lỏng ra, đoản đao tuột đi, phóng vù lại phía Tiêu Lãnh. Tiêu Lãnh trở tay bắt đao, nhướng mày, ánh mắt lộ vẻ kinh ngạc.

Ngọc Linh bị vỗ bay đao, mất mặt vô cùng, chống nạnh quát: “Ngươi muốn chết ư?”

Văn Tĩnh sực tỉnh, nhìn đôi tay mình, bỗng phá lên cười ha hả.

“Ngươi cười cái gì?” Ngọc Linh cau mày: “Hay tại ngươi biết chẳng còn sống được bao lâu nữa, tuyệt vọng quá nên đã phát điên?”

“Ta hiểu rồi.” Văn Tĩnh cười: “Ta hiểu bắn tên thế nào rồi.”

“Bắn tên?” Hai anh em ngạc nhiên không hiểu.

“Ừ, tức là giương cung lắp tên bắn đi như thế nào ấy.” Văn Tĩnh cười: “Tôi hiểu lời Công Dương1 tiên sinh nói rồi.”

Ngọc Linh thót tim khỏa lấp: “Sao lại dê đực dê cái gì ở đây?” rồi cười với Tiêu Lãnh: “Đúng là hắn điên thật rồi!”

Tiêu Lãnh nhìn Văn Tĩnh hồi lâu, hừ mũi: “Kém cỏi!” nói đoạn, ngồi xuống tảng đá, xếp bằng, nhắm mắt dưỡng thần.

“Hừ, ra vẻ ta đây.” Ngọc Linh hỉnh mũi hỏi Văn Tĩnh: “Ngươi không điên thật chứ?”

Văn Tĩnh nghệt mặt: “Tất nhiên là không.”

“Vậy thì được.” Ngọc Linh tươi tắn nói: “Ngươi mau kể tiếp ta nghe, Quan Vũ dùng Thanh Long đao pháp chém hai tên ngốc đó, rồi sau ra sao?”

“Thanh Long đao pháp à?” Văn Tĩnh ngớ người, sực nhớ lại những điều mình đã bịa liền cười xoà: “Vậy chúng ta tiếp tục với chuyện ông ấy treo ấn trả vàng, một mình rong ruổi ngàn dặm…” Ngọc Linh bỗng véo nhẹ vào đùi gã, ghé tai thì thầm: “Đồ ngốc chết toi, nếu sư huynh biết Công Dương Vũ dạy ngươi võ nghệ thì ngươi chết chắc rồi! Sau này không được nhắc đến ba chữ Công Dương Vũ, hiểu chưa?” Văn Tĩnh thấy nàng tỏ ý quan tâm, tự nhiên tim đập loạn xạ hệt như con hươu nhảy nhót, trong đầu như có ai giã gạo lia lịa.

“Hiểu thì tốt rồi!” Ngọc Linh cười khẽ: “Không cần đỏ mặt!”

Nghe nàng nói, mặt Văn Tĩnh càng đỏ hơn, gã lắp bắp hỏi: “Tôi… cô… cô… vì sao quan tâm đến tôi như vậy?”

Ngọc Linh trừng mắt: “Đừng có nằm mơ! Ta chỉ không muốn ngươi chết sớm, ít nhất để ta nghe hết chuyện hãy chết!” Nàng lại cười: “Nhưng nếu ngươi không còn chuyện để kể nữa, ta sẽ mặc kệ ngươi đấy!”

“Chuyện thì tôi nhiều lắm!” Văn Tĩnh phấn khởi: “Kể mãi không hết!”

Ngọc Linh nhìn gã, tủm tỉm nói: “Nếu vậy ta cũng sẽ nghe mãi không thôi!”

“Thật chứ?” Văn Tĩnh không kìm được cảm xúc, nắm luôn lấy tay nàng, nhìn nàng chằm chặp: “Thật chứ cô?”

Ngọc Linh đưa nhanh mắt về phía Tiêu Lãnh, xong trừng trừng nhìn Văn Tĩnh, nhưng vẫn để gã nắm tay, trách khẽ: “Ngốc ạ, nói nhỏ thôi, ngươi chán sống rồi hay sao?” Cảm nhận được nơi tay sự mềm mại ấm áp như thể mơn qua dòng suối dào dạt, tim gã thiếu niên nảy lên điên cuồng, huyết mạch chạy ào ạt suốt châu thân, mặt mày mê mẩn, nếu không có Tiêu Lãnh ngồi đấy, chắc gã đã nhảy lên hét vang rồi.

“Thật không?” Gã ngẩn ngơ hỏi lại: “Cô sẽ nghe mãi chứ?” Ngọc Linh sực tỉnh, rút tay về cáu kỉnh: “Mau kể chuyện đi.” Nghe nàng gắt gỏng, Văn Tĩnh như bị dội một gáo nước lạnh, nhớ ra hoàn cảnh của mình, gã ủ rũ, bắt đầu kể.

Cứ long đong trên đường như thế mười mấy ngày nữa, vào tới Xuyên, đất đai phì nhiêu trải ra thẳng cánh cò bay, cảnh đẹp như thơ, quả nhiên không thẹn cái danh Thiên Phủ2.

Ngọc Linh và Văn Tĩnh vẫn nói nói cười cười. Tiêu Lãnh tức nghẹn cổ, mỗi lần đến lúc không chịu nổi thì bắt Văn Tĩnh động thủ, và y như rằng Ngọc Linh lại nhảy ra phá rối, đòi cùng y cọ xát võ công, lần nào cô ta cũng được như ý vì Tiêu Lãnh cứ diễu võ dương oai trước mặt Văn Tĩnh một hồi thì cảm thấy bớt giận đi nhiều. Văn Tĩnh cũng rất mong được xem họ giao thủ, bởi mỗi lần xem, gã lại vỡ vạc thêm được một vài chỗ ảo diệu của Tam tài Quy nguyên chưởng, dần dần đắm mình vào đó, muốn bỏ cũng không được.

Ngày hôm sau, vào lúc chập tối, Tiêu Lãnh kiếm được ba con tuấn mã, y không nói lấy ở đâu ra, nhưng nhìn yên ngựa vẫn còn mấy chấm máu tươi, Văn Tĩnh cũng đoán được chủ ngựa chắc đã gặp chuyện bất hạnh, tự nhiên cảm thấy thương xót, rồi sực nghĩ: “Bản thân mình như cá nằm trên thớt, lúc nào cũng có thể mất mạng, còn lo đến sự sống chết của người khác làm gì?”

Lại phi ngựa thêm mấy ngày. Đến một hôm, họ gặp một tốp quan binh từ phương bắc xuống, trang phục lôi thôi lếch thếch, phần lớn đều bị thương. Mấy tên trong bọn trông thấy ba con ngựa tốt, lại thấy Ngọc Linh xinh đẹp liền nổi lòng tà muốn chiếm đoạt, nào ngờ vừa mới chờn vờn tới gần đã bị bay đầu. Tiêu Lãnh là người không làm thì thôi, còn đã làm thì tới nơi tới chốn, bèn chém giết sạch để dọn đường. Hải Nhược đao đưa đến đâu, máu đổ thịt văng đến đó, thây ngã ngổn ngang, hơn hai mươi tên quan binh bị giết gần hết, chỉ còn sót một mống. Tiêu Lãnh tóm lấy nó hỏi: “Các ngươi ở đâu lại đây?”

Tên kia hồn xiêu phách lạc, bị Tiêu Lãnh giữ, người mềm nhũn như không xương, nghe quát hỏi, nó lập cập đáp: “Con… con từ Kiếm Môn quan lại.”

Tiêu Lãnh hỏi: “Kiếm Môn quan? Kiếm Môn quan sao rồi?”

“Trương… Trương Hà tướng… tướng quân bị… trúng tiễn của một tên Thát… chết, cửa ải… như rắn mất đầu, bị bọn Thát phá...” Tên nọ khiếp vía quá mà phải đáp, nói chẳng đâu vào đâu: “Hiện giờ… cánh quân tiên phong của Mông Cổ đã đến Lư châu… chúng con đang… rút về Hợp châu…”

“Hừ!” Tiêu Lãnh hỏi: “Người bắn tiễn ấy hình dáng như thế nào?”

“Đó… là một viên tướng Mông Cổ vận chiến bào xanh lam.”

Tiêu Lãnh nở nụ cười hiếm hoi: “Hừ, tên ranh Bá Nhan này!”

“Nhị sư huynh giỏi quá!” Ngọc Linh vỗ tay cười: “Nếu anh ấy cứ bắn chết từng tên tướng giữ thành, thì chỉ ngày một ngày hai là phá được Đại Tống.”

“Làm gì mà dễ dàng vậy được?” Tiêu Lãnh nói: “Tuy Bá Nhan có tài thiện xạ, nhưng sau lần này, người Tống nhất định sẽ đề phòng.”

Trong tay y, tên lính tái mét mặt: “Đại vương, con đã thưa hết cả rồi. Xin ông thả con ra, ở nhà còn vợ…”

“Thôi, tha cho nó đi.” Nhìn tên lính đầm đìa nước mắt, Ngọc Linh động lòng trắc ẩn, sự tốt bụng ấy khiến chính nàng cũng phải ngạc nhiên.

“Hả?” Tiêu Lãnh cười lớn, vụt nhấc bổng tên lính lên phóng tay lẳng đi, xuất lực của y rất mạnh, tên lính húc thẳng vào một cây to, não bắn phọt ra, xương sọ vỡ nát, giãy giụa một hồi rồi chết. Văn Tĩnh thấy thủ đoạn tàn bạo quá, sợ đến đần cả người. Ngọc Linh cũng nhíu mày.

Tiêu Lãnh cười nhạt: “Ta đi chuyến đi này cốt thực hiện trong ngoài tiếp ứng, phò tá hoàng thượng, lập được công lớn, không thể để tên này tiết lộ hành tung của ta.”

Nhìn xác người ngổn ngang đầy mặt đất, Văn Tĩnh bỗng sôi máu, không kìm được thét lên: “Thằng… thằng… điên! Người ta đã xin tha… Ngươi…”

Ngọc Linh rụng rời: “Gã oắt này chán sống rồi hay sao?”

Tiêu Lãnh đưa ánh mắt sắc lạnh sang Văn Tĩnh, giọng rờn rợn: “Ngươi dám ăn nói với ta như vậy hả?”

Văn Tĩnh sững người, nhưng máu nóng trong đầu vẫn sôi sục, không để ý đến Ngọc Linh đang đá mắt đánh mày ra hiệu, gã lắp bắp nói tiếp: “Người ta… van vỉ xin tha mà ngươi giết người ta, là… là… sai!”

Ngọc Linh tái người. Tiêu Lãnh ngó thấy, lửa giận đùng đùng, cười khẩy bảo: “Thằng khốn kiếp, xem chừng ngươi bình phục thật rồi. Được lắm, ta cũng phát sốt ruột vì chờ đợi đây. Xem ngươi chạy ba chiêu thế nào dưới Hải Nhược đao của ta? Xuống ngựa!”

Ngọc Linh kêu lên “Ối, đêm qua hắn mới than đau mà anh!” rồi quay sang Văn Tĩnh, cô hỏi: “Đúng không?”

Trước vẻ mặt lạnh lùng độc ác của Tiêu Lãnh, Văn Tĩnh cũng hơi sợ, nhưng nhìn xác chết lổng chổng dưới đất, đầu gã lại nóng bừng: “Ừ đấy, ta khỏi rồi…”

Lời vừa dứt, một luồng sáng xanh lam đã rít vang xé gió. Con tuấn mã Văn Tĩnh đang cưỡi ré lên thảm thiết, bốn chân đứt lìa. Văn Tĩnh ngã lộn nhào, cột sống sắp đập đất, bỗng chân phải gã điểm xuống lấy đà bật trở lên, xoay mình, chân trái tiếp đất, lại xoay mình cái nữa, cứ nảy lên hụp xuống uyển chuyển như thần long, sau ba lần lặp lại động tác ấy, gã đã đứng vững ở cách xa vị trí cũ hai trượng.

Ngọc Linh kinh ngạc vô cùng: “Tự lúc nào công phu của hắn đã đạt tới mức này?”

Cô gái ngạc nhiên đã đành mà chính bản thân Văn Tĩnh cũng không dám tin. Mười mấy đêm nay gã đều luyện tập theo pháp môn nội công do Công Dương Vũ truyền cho. Gã chỉ biết vết thương lành dần theo mỗi lần luyện và cảm thấy khoan khoái hết sức, vừa ý hết sức chứ không biết Công Dương Vũ đã chẳng nề hao tổn nguyên khí, dốc lòng giúp gã vượt qua cửa ải nhập môn khó khăn, chứ còn thực tế với trình độ của gã, định lực làm gì mà đạt được tới mức thần du thái hư, hồn nhiên vong ngã3, tĩnh toạ được ba canh giờ liền trong gió núi hằng đêm như vậy.

Hạo Nhiên chính khí nhập môn cực khó nhưng nhập môn được rồi thì xuôi chèo mát mái, người tu luyện có thể tiến bộ cực nhanh chỉ trong vài tháng, sau thời gian này mới lại gặp nhiều gian nan trắc trở. Văn Tĩnh đang trong giai đoạn tu luyện thuận lợi, nội công tinh tiến rất mau, đúng là: “thông mọi nhẽ, tỏ mọi đường”, ngày sau tiến bộ hơn ngày trước, hiềm nỗi bản thân gã không nhận ra mà thôi. Tiêu Lãnh kiến thức rộng, tuy có lần đã ngạc nhiên vì thấy Văn Tĩnh vỗ bay đao Ngọc Linh, nhưng vốn coi thường gã thiếu niên nên không lưu tâm, chẳng bao giờ ngờ con giun ấy lại hoá được thành giao long ngay trước mũi mình. Lúc này thấy Văn Tĩnh khá quá, y vừa kinh ngạc vừa bị kích thích, nhếch mép cười nhạt, đâm chếch Hải Nhược đao lên cao, sát khí rùng rùng tuôn chảy theo thế đao, hai con ngựa còn sống cũng cảm nhận được luồng sát khí sắc lạnh ấy, hí lên nho nhỏ, từ từ lùi xuống.

Ngọc Linh quan sát Văn Tĩnh, thầm nhủ: “Nhìn khí thế của sư huynh thế kia, dù gã ngố đã tiến bộ tí chút e cũng khó mà thoát thân. Ôi, uổng công ta vận dụng hết bao nhiêu tâm cơ. Ngố ơi là ngố, chuyện đã hết đâu, nhà ngươi chết đi rồi ai kể tiếp cho ta nghe đây?”

Cô ả đâu biết đúng lúc đó, Văn Tĩnh đang tập trung tinh thần ở mức cao chưa từng thấy, đao khí ồ ạt như sóng xô bờ, mũi đao Hải Nhược lấp loé đã thu hết linh hồn gã, ánh thép lóng lánh đổ dài xuống dưới, ăn vào bức Cửu cung đồ vô hình trên mặt đất.

Trong màn sát khí, gã thiếu niên bất động như hoà thượng nhập định. Tiêu Lãnh ngạc nhiên hết sức: “Thằng nhóc ngộ thật, giỏi lắm.” Ý nghĩ ấy vừa loé qua óc y, Hải Nhược đao đã chém vù đến Văn Tĩnh, kéo theo tiếng rít chói tai, thi triển Hải khiếu sơn băng – thức thứ hai của Tu La Diệt Thế đao.

Chiêu thức thật kinh khiếp, trong vòng hai trượng ngập bóng Hải Nhược đao, như sóng đục ngầu trời, lại như Thái sơn áp đỉnh, dập dồn cuốn về phía Văn Tĩnh. Mặc kệ nó ghê gớm thế nào, Văn Tĩnh cũng cứ chăm chăm tập trung vào điểm sáng của mũi đao, người dập dềnh như một lá thuyền con nương theo hướng đao của Tiêu Lãnh, mau chóng thoát khỏi thế tấn công liên miên bất tuyệt.

“Hay quá!” Ngọc Linh không kìm được reo lên. Tiêu Lãnh nghe thấy, hệt như bị vả vào mặt, vừa giận vừa thẹn, hú một tràng dài. Đao thế chợt biến, lướt đi bám sát theo Văn Tĩnh

Ngọc Linh tái mặt thốt: “Tu La Vô Hồi!” Đây là một trong ba chiêu hung hiểm nhất của Tu La Diệt Thế đao. Tu La vốn là Chiến thần trên thiên giới, hữu dũng tàn độc, mỗi lần ra trận chỉ tiến không lui. Vì vậy hễ xuất chiêu này, đao chưa nhuộm máu chưa trở vào vỏ.

Văn Tĩnh bước theo Cửu cung đồ, dịch chuyển ba vòng vẫn không thoát được mũi đao của đối phương. Gã mau chóng bị dồn áp vào một cây to, tiến thoái lưỡng nan. Ngọc Linh nhắm mắt than: “Tên ngốc tiêu rồi.”

Văn Tĩnh dẫm lên gốc cây gồ ghề xoắn xuýt, mất thăng bằng, người xoay lảo đảo như con vụ. Đúng lúc ấy Hải Nhược đao xé gió lao đến, Văn Tĩnh không tránh được, người vẫn xoay tít, giơ bàn tay vỗ lên sống đao, thi triển Thiên toàn địa chuyển - chiêu thứ hai trong Tam tài Quy nguyên chưởng. Chưởng lực của Văn Tĩnh vốn dĩ không thể khống chế được đao thế của Tiêu Lãnh, nhưng có thêm lực đạo nhờ chân đang quay khiến Hải Nhược đao chệch đi một tấc, xuyên qua bên dưới nách gã, đâm phập vào thân cây.

Chút hi vọng sống thật mong manh, Văn Tĩnh tung mình bật cao, chân trái điểm vào thân cây, lộn một cái, đáp xuống một cành cây.

Đao Tiêu Lãnh vẫn trên đà phóng, mũi đao chạy một vòng quanh thân cây khiến nó gãy ngang, Văn Tĩnh chới với rơi xuống, ngã trầy trụa mặt mũi, không dậy nổi nữa. Sau hai đao của Tiêu Lãnh, gã mất hết thần trí, sức cùng lực kiệt, trơ mắt nhìn Tiêu Lãnh bước đến, ngọn đao nhấp nháy trên tay y hệt như ánh mắt một tên sứ giả câu hồn.

Ngọc Linh nhìn Tiêu Lãnh, mở miệng chực nói gì đó nhưng cuối cùng nín lại. Nghĩ tới lúc Văn Tĩnh phải táng mạng dưới lưỡi đao, cô ta bỗng thấy buồn lạ, không nỡ nhìn nữa bèn quay mặt đi.

Tiêu Lãnh đã nắm chắc phần thắng nên chẳng vội vàng gì, thủng thẳng bảo: “Ngươi đỡ được hai chiêu của ta, kể cũng đã khá hơn cái bọn rác rưởi trên Thần Tiên độ rồi. Đáng tiếc...” Y lắc đầu, giọng lộ vẻ nuối tiếc thật sự: “… vẫn không đỡ được đao thứ ba.”

Văn Tĩnh biết không ổn, chẳng nói chẳng rằng, cánh tay phải sưng vù tím tái cứ run lên bần bật, tuy đã đẩy được sống đao của Tiêu Lãnh đi, nhưng cánh tay ấy cũng đã bị đao kình đả thương, tê dại, mất hết cảm giác như đã hoại tử vậy. Ngọc Linh mặt mày trắng nhợt, trong bụng dùng dằng không quyết, chẳng biết nên làm thế nào.

Trên đường cái quan bỗng có tiếng vó ngựa vang lên, Tiêu Lãnh nhíu mày ngoảnh nhìn, trông thấy mười mấy kỵ sĩ phi tới như gió cuốn. Mắt y rực lửa giận: “Phiền thật!”

Cảm nhận được sát khí toát ra từ y, Văn Tĩnh đứng vụt dậy, thét lớn về phía đám kỵ sĩ: “Đừng lại gần đây.” Nói chưa dứt, hai gối đã tê nhũn, gã lại ngã khuỵu xuống đất.

Người đi đầu gò cương ngựa. Đó là một ông già tóc râu lốm đốm, thân hình to lớn, miệng rộng mũi cao, thái dương gồ lên, sau vai ló ra một chuôi kiếm thắt dải đỏ.

Thấy Văn Tĩnh ngã sóng soài, ông ta ấn tay trái lên cổ ngựa, lộn người đáp xuống đất rồi điểm nhẹ mũi chân, sau hai lần bật lên hụp xuống đã tới trước mặt Văn Tĩnh. Nhìn ông ta hiển lộ khinh công, mấy người cùng nhóm nhất tề hoan hô vang dội.

Trông thấy dưới đất la liệt xác chết quan binh, ông già nổi giận, nhìn ba người, trầm giọng hỏi: “Kẻ nào gây ra?”

Tiêu Lãnh im lặng. U Linh Ảo Hình thuật4 rất thích hợp cho quần đấu, y dụng tâm đợi mấy kỵ sĩ tụ tập lại rồi mới cho một đòn chết cả đám.

Thấy toán kỵ sĩ không nghe mình khuyên giải cứ một mực đến gần, Văn Tĩnh lo lắng vô cùng, lại nói: “Đừng tiến lên nữa.”

“Vì sao?” Ông già hỏi, giọng căm hận: “Quan binh đây do kẻ nào giết?” Toán kỵ sĩ phía sau cũng nhao nhao xuống ngựa, tuốt đao kiếm, đứng quây lại thành nửa vòng tròn, nhìn ba người với ánh mắt tức giận, lừ lừ ép sát về phía họ.

Tiêu Lãnh mim mỉm cười, thoắt một cái đã mất dạng, chỉ thấy vệt đao xanh rờn rợn lướt đi giữa lưng chừng, rồi máu me phụt lên, một thiếu niên vận áo nâu hai mắt bỗng lồi ra, thân thể mất sự sống đổ vật xuống đất.

Vừa xuất thủ là trúng đích, Hải Nhược đao vạch ngang, đi qua cổ họng một tráng hán áo lam, mang theo vòi máu tươi. Đao phong không ngừng lại, tiếp tục rạch một đường cong quái dị, trút xuống ông già trưởng toán. “Keng”, binh khí giao nhau, ông già lảo đảo lùi lại nửa bước, mặt lộ vẻ ngạc nhiên kinh hãi, thanh kiếm cổ Tùng Văn trên tay ông ta bị mẻ một miếng sâu chừng nửa phân.

“Hay lắm!” Tiêu Lãnh thốt, thuận tay ra chiêu Thiên hạ đồ linh, một chiêu vô cùng tàn độc, bao trùm tám hướng, ngọn đao vạch nửa vòng tròn chém về phía ông già. Ông ta khẩn trương hẳn lên, múa kiếm quyết phong kín toàn thân, nhưng chiêu ấy Tiêu Lãnh không xuất toàn lực tấn công, thấy ông già vận kiếm hộ thân, y lập tức chuyển mũi đao. Ánh máu lấp loáng. Chỉ thoáng chốc, Tiêu Lãnh lại đả thương hai người nữa.

Từ đầu tới giờ y xuất chưa đến hai chiêu đã giết liền bốn người. Cả toán kỵ sĩ đều hoảng hốt, la lối kinh hãi, nhao nhao nhảy lùi lại sau. Tiêu Lãnh đời nào tha cho họ thoát, liền vung đao lên. Ông già quát vang giận dữ, rút phắt trường kiếm, liên tiếp xỉa vào ba đại huyệt của Tiêu Lãnh. Ba nhát kiếm vừa nhanh vừa nặng, phảng phất phong phạm danh gia, Tiêu Lãnh tài giỏi là thế mà cũng không dám khinh suất, vội trở đao về chặn đứng cả ba rồi mượn lực từ thân kiếm, lướt thật nhanh đến bên một kỵ sĩ dung mạo thanh tú, chém đứt luôn cuống họng gã.

Ông già tức giận vô cùng, tung mình đuổi theo, ánh kiếm nhoang nhoáng nhắm thẳng vào những chỗ yếu hại của đối phương. Tiêu Lãnh trở mình, chiết thêm bốn năm chiêu, vừa chiết vừa lật tay hai lần, lại giết thêm hai người nữa.

Văn Tĩnh đã nhận ra ý định của Tiêu Lãnh. Người đời có câu: “Muốn bắt giặc trước hết phải bắt vua”, Tiêu Lãnh lại làm ngược với đạo lý đó, y biết ông già võ nghệ cao cường hơn những người khác, lại là thủ lĩnh, nếu giết ông ta trước, chỉ e những người khác sẽ sợ mất mật bỏ chạy tứ tán, chẳng dễ gì mà hạ thủ được, vì vậy y không dốc hết sức giao đấu với ông già mà trút những chiêu thức tàn độc nhất sang đám bạn đồng hành của ông ta. Y không muốn để chuyện tai vách mạch rừng, phải giết kỳ hết đám kỵ sĩ, rồi mới đối phó với người dẫn đầu bọn họ.

Đang mải nhìn, Văn Tĩnh bỗng nghe tiếng Ngọc Linh thì thầm bên tai: “Đồ ngốc! Mau chạy đi!”

Gã ngẩn người, thầm nhủ: “Đây đúng là cơ hội tốt để tháo thân.” bèn ngoảnh đầu nhìn lại. Ngọc Linh đứng ngay sau lưng, đôi mắt đẹp ánh lên sự quan thiết, cô nói khẽ: “Không cần ngươi kể chuyện nữa, mau trốn đi!”

Biết rằng lần này ra đi, chắc rồi sẽ không bao giờ có duyên tái ngộ nữa, Văn Tĩnh lắp bắp: “Tôi… tôi…” rồi nước mắt lưng tròng. Ngọc Linh nhận ra tâm ý của gã, cũng thấy cay cay mắt, nhưng tình hình đã tới lúc cấp bách, cô nói gần như quát: “Chạy mau!”

Văn Tĩnh gật gật đầu, định co giò phóng đi, bỗng nghe thấy tiếng kêu thảm thiết bèn ngoái đầu nhìn lại. Một kỵ sĩ đã bị Tiêu Lãnh chém làm đôi, phần thân dưới vẫn đứng, còn co giật đau đớn. Ông già hai mắt lóe đỏ, gầm lên phẫn nộ, vận kiếm như gió nhưng vẫn không chạm được tới chéo áo của Tiêu Lãnh. Văn Tĩnh ngây người ra nhìn, không nhấc chân nổi nữa.

Đến lúc ấy, toán kỵ sĩ đã chết mất phân nửa, Tiêu Lãnh tàn sát rất cao hứng, cất giọng hú dài, múa đao uyển chuyển, búng ra liền ba đao, hai đao tấn công ông già, một đao bổ thẳng về người kỵ sĩ đứng mé sau y. Ông già nhận ra ý định của Tiêu Lãnh nhưng bất lực, chỉ biết trở kiếm hộ thân, trừng trừng nhìn Hải Nhược đao xanh rờn rợn toả ra trùng trùng sát cơ, chụp xuống bạn đồng hành mình.

Trước màn đao mù mịt, kỵ sĩ nọ thậm chí không biết né tránh ra sao, nói gì đến chặn đỡ, máu trong người y đông lại, tim nhảy lên tận cổ họng, tưởng đã cầm chắc cái chết rồi, bỗng một bóng trắng nháng lên, sau lặn luôn vào màn đao quang, song chưởng chia ra vỗ về phía Tiêu Lãnh. Nhận thấy hai luồng kình khí ấm nóng ngấm vào da mình, sinh cảm giác tê tê, Tiêu Lãnh hoảng hồn ngừng đà đao, buông tha kỵ sĩ, xoay mình chém vào người mới đến.

Người đó vừa chạm tới điểm là lập tức tách ra ngay, thoát khỏi phạm vi của mũi đao. Tiêu Lãnh định thần nhìn kỹ, nhận ra Văn Tĩnh chứ nào phải ai xa, bỗng thét lên, bỏ mặc tất cả những người khác, huơ đao chém gã.

“Đồ khờ khạo!” Thấy Văn Tĩnh không những không bỏ chạy còn đến vuốt râu hùm, Ngọc Linh kinh hãi đến thần người: “Hắn… hắn đang nghĩ gì không biết?”

Tiêu Lãnh đánh tới, Văn Tĩnh không dám tranh phong cùng y bèn thi triển Tam tam bộ, vắt chân lên cổ chạy. Ông già hết sức kinh ngạc vì người thanh niên có dáng điệu công tử ấy buộc được Tiêu Lãnh phải biến chiêu, lại thấy ánh đao của Tiêu Lãnh chuyển hướng, truy sát Văn Tĩnh, ông ta sợ gã thất bại bèn tận lực thi triển thân pháp đuổi theo, phát liền một lúc sáu nhát kiếm “soạt soạt soạt…”, chiêu thức thành thục tinh diệu, kình lực mạnh mẽ, buộc Tiêu Lãnh phải quay lại ngăn đỡ. Văn Tĩnh thở phào, vận bộ pháp huyền ảo, bước bảy thước đáp xuống mé bên Tiêu Lãnh vỗ một chưởng. Tiêu Lãnh chế ngự xong kiếm thuật của ông già, thấy vậy bèn vận đao chém ngang. Ông già tận dụng sơ hở, trường kiếm như cầu vồng ào ào trút xuống.

Hai người liên thủ, một người võ nghệ chính quy, một người công phu kỳ môn, hợp sức chặn đứng thế tấn công của Tiêu Lãnh. Trong thoáng chốc, chỉ thấy ba bóng người thoắt qua thoắt lại, chập chờn nhấp nhô, mấy kỵ sĩ không ai can thiệp nổi. Ngọc Linh đứng bên xem, vốn dĩ với tính khí thường nhật của cô ta, cho dù bị Tiêu Lãnh trách mắng cũng phải xông vào giúp đỡ, nhưng hôm nay cô bỗng mất hẳn hứng thú, ngược lại thầm mong ba nguời vĩnh viễn không phân thắng bại.

Đấu được mười mấy chiêu, Tiêu Lãnh dần ổn định được cục diện, đao thế ào ạt tràn sang như sóng biển phá đê. Văn Tĩnh căn cơ chưa vững, nội lực còn yếu, cứ dập dềnh thế này mãi, gã và ông già chắc chắn sẽ rơi vào thế hạ phong. Gã liên tiếp tránh được mấy hiểm chiêu, hơi thở bắt đầu rối loạn, chới với ngã ra phía trước, Tiêu Lãnh thừa cơ chém xéo một đao vào cổ gã. Ngọc Linh trông thấy suýt buột miệng la lên.

Đúng lúc ấy, một mũi tên dài vù vù lao tới, đầu tên sắc nhọn nhắm thẳng mặt Tiêu Lãnh. Tiêu Lãnh vội vã vòng Hải Nhược về chặn tên, cảm thấy kình đạo trầm hùng dị thường. Còn chưa hiểu đầu cua tai nheo ra sao, mũi tên thứ hai đã đến nơi, Tiêu Lãnh rung đao gạt rơi rồi lắc mình lùi lại ngoài hai trượng. Sáu mũi tên đuôi lông vũ phầm phập theo nhau bắn tới, Tiêu Lãnh vừa né vừa đánh, gạt đám tên rơi lả tả. Không để ông già và Văn Tĩnh kịp xông lên, y đã hú dài băng mình đi mấy trượng, đáp xuống sau một cây đại thụ, vừa lúc trông thấy ba kỵ sĩ phi tới như cơn lốc, tay giương cung, động tác rất linh hoạt.

“Tiết gia huynh đệ đến rồi.” Một kỵ sĩ vui mừng reo to.

Ba người gò ngựa ở đằng xa, lắp tên lên cung, vẻ mặt nghiêm trang, nhắm về phía trước. Tiêu Lãnh thu Hải Nhược đao, chậm rãi bước ra, mặt lạnh lùng.

“Soạt, soạt, soạt.” Ba mũi tên cùng tới một lúc, Tiêu Lãnh khẽ lắc mình, đôi tay múa như gảy đàn tỳ bà, bắt gọn đám tên. Mọi người không kìm được cùng bật kêu kinh hãi.

Tiêu Lãnh tuy bắt được tên, nhưng cũng biết đối phương có thêm ba tay thiện xạ nọ thì hôm nay y không thể giết sạch bọn họ được nữa rồi, điều quan trọng trước mắt là bảo vệ Ngọc Linh, tránh cho nàng bị thương vì tên bay đạn lạc. Cân nhắc hồi lâu, y cười nhạt, sải bước về phía con ngựa. Ba xạ thủ thấy y tay không bắt tên đã đủ kinh, nay thấy y quay lưng lại mình bỏ đi thì càng thêm do dự, chưa dám giương cung lần nữa.

Một kỵ sĩ thét vang căm phẫn: “Kẻ đó giết bao nhiêu người thế này, không thể tha cho hắn…”

Y nói chưa dứt, miệng đã cứng đơ, chỉ thấy một mũi tên biến sâu vào cổ họng, rồi máu tia mạnh ra phía gáy y, tưới lên người đồng đội đứng sau, khiến người đó sợ đến thất thần. Trừ Văn Tĩnh và ông già, không ai trong số những người có mặt nhận ra Tiêu Lãnh đã xuất thủ thế nào. Họ bất động, giương mắt ngó y nhảy lên mình ngựa.

Tiêu Lãnh nhìn xoáy vào Văn Tĩnh, khóe miệng nhếch khẽ, tựa cười mà không phải cười: “Lần này ngươi cao số đấy.”

Ông già hoành kiếm bước lên: “Ngươi muốn đi ư?”

Tiêu Lãnh lạnh lùng trả lời: “Ta đi thì sao?”, rồi không bận tâm đến ai nữa, y giật cương ngựa.

Mọi người sục sôi căm phẫn toan đuổi theo, Văn Tĩnh giơ tay cản lại: “Hôm nay đã bao nhiêu người chết, các ông cũng thấy bản lĩnh của hắn rồi đấy. Chặn hắn cầm bằng mất mạng thôi.”

Một người hậm hực thét: “Lẽ nào các anh em của chúng ta chết uổng hay sao?”

Văn Tĩnh nói: “Vẫn tốt hơn là chết sạch không còn một mống.”

Mọi người nín lặng. Ông già mặt tái xanh, nhìn lướt những thi thể la liệt trên đất, thầm nhận định những lời Văn Tĩnh nói rất có lý, hôm nay bảo toàn tính mạng đã là may mắn lắm rồi, sức đâu mà giết được Tiêu Lãnh. Ông ta giậm chân, hét toáng theo y: “Các hạ có dám để lại danh hiệu không? Lưu Kình Thảo này là người Nga Mi, nếu còn sống nhất định sẽ đến cửa các hạ đòi nợ máu.”

Tiêu Lãnh hà một tiếng, không đáp, thúc ngựa đi. Ngọc Linh liếc Văn Tĩnh, mắt thoáng buồn, vỗ ngựa theo sư huynh. Anh em họ Tiết nhìn nàng, đều nghĩ thầm: “Đứa con gái này xem chừng cũng cùng một giuộc với hắn, tuy chúng ta không làm gì được tên áo đen nọ, nhưng có thể đòi lại công bằng từ con bé.” Ngay lập tức, họ cùng buông ba phát tên vào lưng Ngọc Linh.

Văn Tĩnh ngó thấy hoảng hồn, nhanh như cắt nhảy ào ra, đi sau mà đến trước, nắm trúng luôn một mũi tên, hiềm nỗi kình lực từ mũi tên quá mạnh, tước luôn lớp da trong lòng bàn tay khiến gã đau toát mồ hôi. Hai mũi tên còn lại vẫn bắn về phía Ngọc Linh, Văn Tĩnh sợ thót tim, nào ngờ Ngọc Linh như có mắt sau lưng, trở tay vung roi ngựa quất phăng đi, hai mũi tên rơi xuống đất. Mọi người hoảng hốt thầm nhủ: “Chẳng ngờ con bé ấy cũng lợi hại như vậy. Nếu ả và tên kia liên thủ thì dẫu được Tiết gia huynh đệ trợ trận, có lẽ chúng ta cũng chưa phải là đối thủ của chúng. Không hiểu sao lúc nãy ả chỉ một mực đứng xem?”

Tiêu Lãnh và Ngọc Linh đi xa dần. Anh em họ Tiết thúc ngựa tiến lên, một người trong bọn mặt vàng như nghệ hỏi Văn Tĩnh: “Vì sao các hạ bắt tên của Tiết mỗ?”

Văn Tĩnh bực mình: “Gã áo đen giết người, can hệ gì đến cô gái? Tại sao các ông bắn bừa?”

Người đó không ngờ Văn Tĩnh khẳng khái như thế, hơi ngạc nhiên hỏi: “Nhưng chúng là đồng bọn cơ mà?”

Văn Tĩnh đáp: “Dẫu là đồng bọn, nhưng cô ấy không giết người. Oan có đầu, nợ có chủ, các ông không nên bắn cô ấy.”

Những người khác đều cảm thấy không thỏa đáng, định tranh luận với Văn Tĩnh, Lưu Kình Thảo bèn bảo: “Khoan bàn đến chuyện ấy vội. Bao nhiêu quan binh mất mạng mới là việc lớn này.” Nói tới đây, ông ta nhìn thi thể đồng đội la liệt trên đất, bất giác sa lệ nói: “Không ngờ mới một trận hôm nay mà phái Nga Mi chúng ta đã thiệt hại quá nửa. Đúng là số kiếp! Công tử này, cậu có biết tên áo đen ấy lai lịch thế nào không?”

Thấy Văn Tĩnh không đáp, ông ta lại hỏi: “Vì sao công tử im lặng?”

Văn Tĩnh ngạc nhiên trỏ vào mũi mình: “Công tử? Ý ông nói tôi ấy hả?”

Ai nấy đều ngạc nhiên. Người mặt vàng bỗng liếc thấy tấm Cửu Long ngọc lệnh đeo bên hông Văn Tĩnh, y biến sắc, chăm chú quan sát tướng mạo gã thiếu niên rồi đột ngột la lên: “Ối chà!” xong tụt khỏi yên ngựa, quỳ mọp xuống thảng thốt gọi: “Thiên tuế!”

Những người khác cả kinh ngơ ngác nhìn nhau. Lưu Kình Thảo dè dặt: “Tiết huynh…”

Hán tử mặt vàng nói to: “Hoài An vương giá lâm, các người còn không mau bái kiến?”

Văn Tĩnh sực tỉnh, trong bụng than khổ tơi bời.

Lưu Kình Thảo sửng sốt: “Cậu ấy là Hoài An vương?”

Người mặt vàng nhìn Văn Tĩnh với vẻ cung kính: “Thiên tuế còn nhớ tại hạ chứ ạ?”

Văn Tĩnh cứng miệng. Người mặt vàng thoáng vẻ thất vọng: “Lẽ nào thiên tuế đã quên? Tại hạ Tiết Dung, đây là Tiết Phương, Tiết Công, các anh em của tại hạ. Năm ngoái tôi vào cung, lỡ tay đả thương quý tộc, bị hạch tội, may nhờ thiên tuế bảo lãnh, bằng không đã mất mạng lâu rồi. Từ khi giã biệt, tiểu nhân vẫn ghi khắc những lời dặn dò của thiên tuế, vào Xuyên chiêu tập quần hùng cùng chống lại bọn Thát. Hiện nay phần lớn hào kiệt Xuyên trung đều tụ họp ở Hợp Châu. Kình Thảo công đây, hiệu Tiên nhân kiếm, là một nhân tài võ học, vung kiếm đánh khắp Tứ Xuyên chưa từng gặp đối thủ…”

Lưu Kình Thảo lắc đầu, giọng thảm não: “Hổ thẹn! Hổ thẹn! Tiết huynh cũng thấy rồi đấy, hôm nay Lưu mỗ đã bại hẳn, từ giờ trở đi thực không dám nhắc tới ba chữ Tiên nhân kiếm nữa.”

Thấy ông ta sầu khổ như vậy, Văn Tĩnh không đành lòng bèn an ủi: “Bạch tiên sinh võ công cao cường cũng phải úy kỵ tên đó nữa là. Sư phụ hắn hiệu xưng Nước đen cuồn cuộn, ngập khắp thiên hạ, nghe nói còn khủng khiếp hơn kia!”

Mọi người tức thì xám mặt, không khí bỗng tịch mịch như chết khiến Văn Tĩnh nghẹn thở, gã nhủ thầm: “Bọn này sao bỗng như gặp ma cả ấy nhỉ! Cái lão Tiêu Thiên Tuyệt đó đáng sợ đến thế ư?”

Một lúc lâu sau, Lưu Kình Thảo ngửa mặt lên trời thở dài: “Ra vậy, hôm nay ta thua cũng không oan mà.” Rồi xá Văn Tĩnh: “May được thiên tuế liều mình cứu mạng, nếu không Lưu mỗ và môn nhân chẳng ai tránh được tai họa rồi.”

Nghe họ một hai gọi mình là thiên tuế, Văn Tĩnh thấy người râm ran như có kiến bò, ngứa ngáy khó chịu, nhưng không biết giãi bày thế nào, chỉ đành ừ hữ.

Tiết Dung nói: “Nhắc tới Bạch tiên sinh, sáng nay có người bạn kể với Tiết mỗ là mới gặp ông ấy, thấy ông cùng Đoan Mộc tiên sinh, Nghiêm huynh và, ờ, một ông già nữa, đều cuống quýt nhắn hỏi Tiết mỗ tin tức về thiên tuế. Nghe nói thiên tuế mất tích, Tiết mỗ phát hoảng lên.” Kể tới đây, y run run.

Văn Tĩnh giật mình: “Họ đã qua Kiếm Môn rồi ư?” đoạn ngoảnh đầu nhìn quanh, bụng thấp thỏm.

Tiết Dung đáp: “Vâng. Nhờ trời thiên tuế bình an vô sự. Chẳng hay… vì sao thiên tuế thất tung…” chợt nhận thấy vẻ nhớn nhác của Văn Tĩnh, cho rằng gã còn ẩn tình gì khác không muốn thổ lộ, y bỏ lửng câu.

Văn Tĩnh ngập ngừng thốt ra điều khiến lòng lo lắng nhất: “Bạch… Bạch tiên sinh và những người kia liệu có ở gần đây không?”

Hơi ngạc nhiên vì biểu hiện kỳ quái của Văn Tĩnh, song nghĩ chắc chỉ do gã quan tâm đến thuộc hạ mà thôi, Tiết Dung cũng không bận nghi ngờ, bèn đáp: “Quanh quanh đây thì phải…”

Văn Tĩnh tái mặt, toan mượn cớ lỉnh đi, chợt nghe thấy Lưu Kình Thảo hỏi: “Bạch tiên sinh có phải là Song tuyệt tú tài Bạch Phác Bạch đại hiệp không?”

Tiết Dung gật đầu: “Đúng đấy!”

Lưu Kình Thảo cả mừng: “Ông ấy cũng đến ư? Song tuyệt của Bạch tiên sinh là trỏ vào quyền và kiếm, ngày xưa ông ấy đã từng nắm trọn vùng Hoài Thủy, vung kiếm trấn áp cả Thê Hà Thập nhị bảo, danh động Giang Nam. Có dạo rất lâu rồi, Lưu mỗ hữu duyên gặp mặt ông ở Xuyên trung một lần, võ công quả thực thâm bất khả trắc, Lưu mỗ kính phục vô cùng. Nếu đúng là Bạch tiên sinh thì có lẽ sẽ thắng được tên môn nhân Hắc Thủy kia đấy.” Tự nhiên tìm được một cao thủ góp sức báo thù, Lưu Kình Thảo phấn chấn hẳn lên: “Thiên tuế cứ yên tâm, thảo dân võ nghệ chưa đâu vào đâu nhưng rất đông bằng hữu. Tôi sẽ cho môn nhân nhắn tin đến các bạn tôi, tìm nơi Bạch tiên sinh đang ở…”

Văn Tĩnh nhợt mặt, vội vàng ngắt lời: “Khỏi cần…”

Lưu Kình Thảo nói với giọng thiết tha: “Thiên tuế đừng khách sáo. Bọn thảo dân chẳng mất mấy công đâu…”

Thấy ông ta hiểu lầm, Văn Tĩnh chẳng biết giải thích thế nào, chỉ nhớn nhác không yên. Tiết Dung vốn dĩ có chút tính toán riêng, muốn lập công với ‘Hoài An vương’, nẫng tay trên Bạch Phác, hộ tống Văn Tĩnh đến Hợp Châu, mong được Kinh lược sứ để mắt, may ra có cơ hội bước vào con đường sĩ hoạn, nhân đấy nói: “Thiên tuế! Kinh lược sứ Vương Lập đang ở Hợp Châu mong ngóng đại giá của người. Việc quân rất nguy nan, mời thiên tuế cùng tiểu nhân mau đi tới đó.” Văn Tĩnh lộ vẻ ngập ngừng. Sợ bị gã từ chối, Tiết Dung lại vội vã bảo: “Thuộc hạ đối với thiên tuế một tấc lòng son, trời đất có thể chứng giám. Được xả thân vì thiên tuế, dẫu phải nhảy vào nước sôi lửa bỏng, gan óc lầy đất, Tiết mỗ cũng chẳng từ nan.”

Tiết Công, Tiết Phương cũng phơi gan phơi ruột, nói sùi cả bọt mép. Lưu Kình Thảo nhìn ra thâm ý, bèn thưa: “Tiết gia huynh đệ giỏi tiễn pháp, nhất định sẽ đưa thiên tuế đến Hợp Châu an toàn. Lưu mỗ tuy bất tài nhưng cũng nguyện phò tá, tận lực vì người.”

Bọn họ mồm năm miệng mười, Văn Tĩnh không chen vào nổi, thêm nữa gã thuộc loại da mặt mỏng, lá gan nhỏ, thấy ai nấy thề bồi tha thiết, kiên quyết thỉnh mệnh, tay chân gã cứ cuống hết cả lên, trong bụng gào thét “Tôi chẳng phải thiên tuế gì đâu” nhưng không thể nói được thành lời. Cuối cùng vô kế khả thi, gã bất lực “Ừ” một tiếng, rắp tâm giở mẹo cũ, nửa đường tìm cơ hội đào tẩu.

Thấy gã đồng ý, ai nấy mừng rơn. Lưu Kình Thảo để một môn nhân lại xử lý các việc về sau, rồi lệnh cho hai người khác liên lạc với bạn bè, tìm tung tích của nhóm Bạch Phác, bản thân mình thì cùng anh em họ Tiết hộ tống Văn Tĩnh đi Hợp Châu.


oOo


Hai người giục ngựa chạy một thôi. Tiêu Lãnh ngoái lại hỏi Ngọc Linh: “Đói chưa?”

Ngọc Linh buồn buồn lắc đầu.

Tiêu Lãnh mỉm một nụ cười hiếm hoi: “Em mệt ư?” Y thò tay vào ngực áo lấy Huyết Ngọc Hoàn Dương đan: “Em uống hai viên đi!”

Ngọc Linh gằm đầu im lặng. Tiêu Lãnh thôi cười, hừ khẽ: “Chẳng lẽ em nhớ tên nhóc con đó?”

Cô gái giật mình, lại nghe thấy Tiêu Lãnh hỏi tiếp: “Em thích hắn ư?”

“Em… em đâu có?” Ngọc Linh cuống quýt nói: “Gã khốn kiếp ấy vừa ngốc nghếch vừa ngớ ngẩn, võ công lại chẳng ra gì. Em có thể thích lợn thích chó, chứ làm sao thích hắn cho nổi!”

Tiêu Lãnh thở ra, mặt dịu đi: “Chẳng biết hắn học đâu được công phu ấy, công phu đặc biệt như thế mà mới nắm được lõm bõm, hừ, không thoát nổi ba đao của ta.” Nói tới đây, y nhìn sang Ngọc Linh với vẻ tự đắc: “Em thua rồi, sau này phải vâng lời ta nhé!”

“Ai nói em thua?” Ngọc Linh cãi: “Anh chưa chém xong đao thứ ba mà!”

“Em…” Tiêu Lãnh sửng sốt: “Em lại cãi chày cãi cối rồi.”

Ngọc Linh cười nụ.

Tiêu Lãnh lại nói: “Dẫu vậy, sớm muộn gì ta cũng làm thịt hắn!”

Ngọc Linh nín lặng. Tiêu Lãnh nhìn sang, thấy đôi mày nàng chau chau, đáng yêu khôn tả, y cầm lòng không đậu, thở dài bảo: “Sư muội, thực tình ta chẳng muốn làm em giận, ta chỉ lo cho sự an toàn của em thôi. Em có biết, lòng ta đối với em…”

Ngọc Linh vẫn thẫn thờ nãy giờ, nghe Tiêu Lãnh nói đến đây, cô mới sực tỉnh, ngơ ngác hỏi: “Anh bảo gì kia?”

Tiêu Lãnh giật thót: “Không có gì!” vội vàng ngoảnh đầu đi, đưa mắt nhìn lên phía trước, quất ngựa chạy: “Hợp Châu thành ở trước mặt kia rồi!”


oOo


Như chim phải tên hụt sợ cành cong, nhóm Lưu Kình Thảo đi đường hết sức e dè thận trọng, đề phòng mọi chỗ, tới mức nhìn cây lòa xòa cũng tưởng bóng người lấp ló, cứ thế, chỉ khổ Văn Tĩnh không tìm nổi đến một cơ hội thoát thân, thậm chí mượn cớ đi vệ sinh, mấy người kia cũng đứng quây bốn mặt, kín như bưng trống. Văn Tĩnh tuy có Tam tài Quy nguyên chưởng nhưng tính tình vốn mềm yếu, chưa tới lúc vạn bất đắc dĩ thì không dám động thủ, thành ra cứ dùng dằng mãi.

Trời ngả hoàng hôn lúc nào chẳng biết, chợt nghe thấy tiếng sóng rì rào âm âm vọng đến. Vòng qua một ngọn núi, không gian trước mắt họ mở ra rộng rãi bao la, một dòng nước mảnh mai luồn đi giữa sơn cốc xanh tươi, uyển chuyển chảy hòa vào sông lớn. Lúc ấy mặt trời tàn chưa khuất bóng, vầng trăng tròn đã hé nhú ở phương đông, nhật nguyệt giao huy soi nước biếc, đại giang cuồn cuộn trôi. Hai bên bờ sông núi cao nhấp nhô, cây lá mướt mắt, cùng uốn lượn chạy về hướng tây rồi chìm lút trong ráng đỏ của trời chiều.

Trước cảnh quan kỳ thú, Văn Tĩnh khoan khoái vô ngần, quên bẵng những điều phiền não đang gặp phải. Còn đương ngơ ngẩn, chợt nghe thấy Tiết Dung gọi: “Thiên tuế trông kìa, phía kia là Hợp Châu thành đó.”

Văn Tĩnh giật mình nhìn theo hướng tay chỉ, thấy trong mây khói hoàng hôn, một thành trì lù lù sẫm màu đứng giữa non xanh nước biếc trông như một con quái thú khổng lồ, tọa lạc tại nơi hội tụ của hai con sông, đặc biệt ở mé hướng ra bờ nước, thành cao đến trăm thước, uy nghiêm lừng lững, hiện ra tráng lệ giữa thiên nhiên.

Hết chương 4

1 Công Dương là một họ kép trong Bách gia tính Trung Quốc, còn có nghĩa là “dê đực”, đồng âm đồng tự.

2 Đồng bằng màu mỡ Thành Đô được gọi là “Thiên Phủ chi Quốc", có nghĩa là "đất nước thiên đường".

3 Nguyên văn: 神游太虚,浑然忘我 Ý là rũ bỏ mọi tạp niệm, quên hết tất cả (để tập trung vào việc gì đó).

4 Đoạn trước có nói là U Linh Di Hình thuật. Tôi đánh dấu ở đây chờ dịp kiểm chứng.

Tài sản:


[Xem tất cả tài sản]
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
quynhmi
bài viết 29 Aug 09 01:45
    Gửi vào: #6
Ông Trùm Thành viên thứ: 242878 Tiền mặt: 98917050
Group Icon Tham gia: 1-March 09 Được cám ơn: 83
Nhóm: Members Bài viết: 1113 No Yahoo Messenger
Chương 5 – Chiến thành nam1


Lưu Kình Thảo vê râu, giới thiệu: “Thành này có hai mặt giáp bờ nước nên còn mang tên khác là Điếu Ngư2. Nhưng nếu muốn thả câu thật thì dây câu phải dài ít nhất hai trăm thước.”

Tiết Dung sai Tiết Công phóng khoái mã đi tiền trạm vào thành báo tin.

Trống ngực đập thình thịch, Văn Tĩnh thầm nghĩ: “Lúc này mà không trốn thì chẳng còn cơ hội nào chạy thoát được nữa.” Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng bối rối quá đỗi, gã chẳng tìm ra được cách gì, mau chóng bị đám người xúm quanh đẩy về phía thành Hợp Châu.

Họ đi chưa đầy hai dặm, đã thấy phía trước bụi bốc mù mịt, một toán nhân mã phóng thốc tới. Viên tướng đi đầu tung mình xuống, cúi lạy Văn Tĩnh sát đất, những người cùng đoàn cũng răm rắp làm theo, Văn Tĩnh ngồi ngẩn ra trên lưng ngựa.

Viên tướng nọ tuổi chừng ngũ tuần, trán rộng mặt to, tóc mai lốm đốm bạc, vầng trán nổi bật một nối ruồi đỏ như chu sa. Bộ khôi giáp trên người rung rung, hành lễ xong ông ta đứng dậy, cất giọng sang sảng chào: “Thuộc hạ Vương Lập - Tứ Xuyên Kinh lược sứ - tham kiến thiên tuế.”

Văn Tĩnh thở dài, cố lấy lại bình tĩnh. Vương Lập không đợi gã trả lời, nói tiếp: “Thiên tuế giật mình vì bọn bất lương, thêm nỗi đi đường mệt mỏi, hẵng nghỉ lại ở vùng hoang dã này ít lâu, thuộc hạ đã cho người chuẩn bị rượu quý thức ngon để nghênh tiếp thiên tuế.” Đoạn ông ta chìa tay: “Mời thiên tuế!”

Văn Tĩnh muốn bày tỏ chút thân thiện nhưng lại thẹn, ngập ngừng gọi: “Vương Kinh lược sứ…”

Vương Lập nghiêm mặt ngắt lời: “Thuộc hạ để mất Kiếm Môn, tự biết tội đáng muôn chết. Vào trong thành rồi, thuộc hạ sẽ bẩm báo tình hình cụ thể sau.”

Văn Tĩnh nghe nói cứ đuỗn người ra, chẳng biết nên đáp thế nào. Vương Lập nhảy phắt lên chiến mã, cùng những người khác rạp mình cúi chào, mời Văn Tĩnh đi trước. Gã thiếu niên hết cách, đành giục ngựa tiến lên, có anh em họ Tiết hộ vệ hai bên trái phải, giương cung lắp tên trông rất uy phong. Văn Tĩnh cảm thấy nhức óc vô cùng.


oOo


Vào đến Thái thú phủ, yến tiệc đã sắp sẵn trong đại sảnh, một bầy thị nữ cúi đầu khép nép đứng bên lối đi, trông thấy Văn Tĩnh đều rạp mình vái lạy, nhạc công nổi đàn sáo, tấu khúc Tương kiến hoan, âm thanh vui tươi réo rắt.

Văn Tĩnh ngứa ngáy khó chịu, không nhịn nổi liền ngoảnh phắt lại toan nói rõ chân tướng, chợt nghe thấy ngoài cửa lớn có tiếng vó ngựa, tiếng lào xào huyên náo, rồi sửng sốt nhận ra Bạch Phác, Nghiêm Cương, Đoan Mộc Trường Ca và Lương Thiên Đức đang xăm xăm đi vào.

Văn Tĩnh hoảng hồn, nín thinh nhìn họ. Không khí trong sảnh bỗng lặng hẳn, mấy nhạc sư dường như cũng cảm nhận được điều bất ổn nên ngừng chơi. Văn Tĩnh chực mở miệng, Bạch Phác đã vái lạy sát đất, trầm giọng nói: “Thuộc hạ hộ vệ sơ suất khiến thiên tuế gặp nguy hiểm, tội đáng muôn chết. Xin thiên tuế trách phạt.” Ba người kia đưa mắt nhìn nhau, rồi cũng quỳ cả xuống. Lương Thiên Đức là người bực bội nhất: Già lạy con còn ra cái thể thống gì nữa?

Văn Tĩnh nín lặng nhìn ông bố, sống lưng gai gai, bất giác run rẩy. Vương Lập quan sát sắc mặt gã, dò đoán suy nghĩ của gã, tự hỏi: “Phải chăng thiên tuế giận bốn người họ không làm tròn chức trách, nhưng e mất vẻ khoan dung độ lượng của mình nên không muốn phạt họ công khai?” Nghĩ đến đây, ông ta thận trọng tính toán, thầm nhủ: “Nếu đã thế, để ta thay thiên tuế làm việc này vậy.”

Rồi thay đổi vẻ mặt, ông ta quát bốn người: “Các ngươi hành sự bất lực, đáng phạt tội nặng! Người đâu, kéo ra ngoài đánh hai trăm trượng thẳng tay.”

Bốn người chưa kịp nói năng gì, Văn Tĩnh nghe thấy họ sắp sửa đánh cha mình, đã vội vã kêu lên: “Khoan nào!”

Bốn người đều nhìn gã, Văn Tĩnh bối rối, gắng trấn tĩnh, chậm chạp nói: “Tôi… tôi… Ờ, việc này không trách họ được…” Vụt nhớ đến vài đoạn vi hành điều tra trong truyện kể, gã nói: “Ta chỉ muốn âm thầm tìm hiểu một số việc, xem tình hình Xuyên trung ra sao? Nào ngờ gặp phải kẻ xấu… Ờ, việc này đều là lỗi của bản… bản vương, bản… bản vương hiện đã bình an vô sự rồi, các ngươi, các ngươi đứng lên cả đi.” Chẳng biết làm thế nào, gã đành nhận lấy cái mác Hoài An vương đó vậy.

Nhóm Bạch Phác nhìn nhau, mỉm cười đứng dậy. Đêm hôm nào mất dấu Văn Tĩnh, bốn người tìm kiếm không thu được kết quả gì, kế đó nghe tin khẩn từ Kiếm Môn bèn vào ải hiệp sức bảo vệ. Tướng giữ ải là Trương Hà bị Bá Nhan bắn tên chết, trong thành tình hình rối loạn như rắn mất đầu, đại quân Mông Cổ thừa cơ nghi binh ở phía tây ải, kế đó dùng nỏ lớn và đại pháo yểm hộ cho xe tông phá cửa thành. Bốn người khó khăn lắm mới kiểm soát được đám bại binh, chạy thoát khỏi sự truy đuổi của quân Mông Cổ, lùi vào Xuyên trung. Trước việc Văn Tĩnh mất tích, rồi đến Kiếm Môn quan thất thủ, họ đều bối rối chẳng nghĩ ra kế gì, đành theo đám bại binh rút về Hợp Châu, lúc này đây thấy Văn Tĩnh bình an vô sự, tuy còn điều nghi hoặc chưa hiểu nhưng bốn người cùng hết sức vui mừng, nhất là Lương Thiên Đức, quả thực đã cất được một gánh nặng lớn trong lòng.

Vương Lập như bị dội nước lạnh, chưng hửng. Các tướng khác lo sợ thầm nghĩ: “Không ngờ Hoài An vương lợi hại như vậy, một mình đi vi hành, chẳng hiểu những việc xấu mình làm ngày thường có bị ông ta phát hiện không?”

Mọi người lần lượt ngồi xuống, ai nấy một dạ băn khoăn, chợt nghe thấy tiếng cười vang lên ngoài cửa, rồi trông thấy mấy người vận giáp sắt sải bước tiến vào. Người đi đầu mặt trắng râu dài, hình dung nho nhã, chếch mé trái y là một người tầm thước, da ngăm, ánh mắt sắc lẻm, trông rất mạnh mẽ. Hai người phía sau đều cao trên tám thước, lừng lững khôi vĩ, một người râu xoăn đến ngực, một người râu dài lất phất, uy phong lẫm lẫm, tướng mạo bất phàm.

Người đi đầu tiến vào đại sảnh, xá Văn Tĩnh một cái, dõng dạc cất tiếng: “Thái thú Hợp Châu là Lý Hán Sinh bận việc quân không kịp nghênh tiếp, mong thiên tuế thứ tội.”

Dạo trước Văn Tĩnh đã nghe Bạch Phác nhắc đến tên tuổi hình dáng quan viên Hợp Châu, còn nhớ được chút ít, cũng chẳng thể thú nhận cái vụ giả mạo này được nữa, đành đáp: “Lý Thái thú đừng đa lễ.”

Người da ngăm vái chào: “Thuỷ sư Đô đốc Lữ Đức tham kiến thiên tuế. Thuộc hạ đang bận áo giáp, không thể trọn lễ, mong thiên tuế lượng thứ.”

Vương Lập trỏ hai người phía sau Lữ Đức, cười: “Lý Thái thú và Lữ Đô đốc thì thiên tuế đều gặp rồi, còn hai vị này, thiên tuế chắc đã nghe tên từ lâu nhưng chưa gặp bao giờ. Vị râu xoăn là Mã quân Thống chế Hướng Tông Đạo, vị kia là Bộ binh Thống chế Lâm Mộng Thạch, có hai vị ấy và Lữ Đô đốc, Hợp Châu nhất định vững như kiềng ba chân.”

Văn Tĩnh không biết nên ứng đối thế nào, chỉ gật đầu cho bốn người ngồi, bụng bảo dạ: “Cứ thế này mãi sớm muộn cũng cháy nhà ra mặt chuột.” Thấy gã bần thần, Vương Lập lại hiểu lầm, bèn thưa rằng: “Thiên tuế đừng lo, dẫu tiên phong của bọn Thát có tới Lư Châu thì cũng khó lòng vượt qua được Lôi trì3, vì Chỉ huy sứ thành ấy là Lưu Chỉnh tướng quân, một danh tướng thuộc hạng nhất nhì Xuyên trung, đa mưu túc trí, thao lược hơn người. Có ông ấy giữ Lư Châu, thiên tuế cứ ở phía sau lập kế hoạch tác chiến là được rồi.”

Văn Tĩnh chẳng hiểu ông ta nói những gì, chỉ gật gật đầu. Vương Lập nói xong vỗ tay, tiếng tơ trúc lại nổi lên, hai tốp vũ cơ xiêm y sặc sỡ theo nhau tuôn vào. Một thiếu nữ diễm lệ vận áo sa mỏng màu lam, tay cầm phách gỗ hồng, vừa theo bậc cấp tiến lên sảnh đường vừa gõ phách ca:

“Tuý phách xuân sam4 tích cựu hương,

Thiên tương li hận não sơ cuồng,

Niên niên mạch thượng sinh thu thảo,

Nhật nhật lâu trung đáo tịch dương.

Vân miểu miểu,

Thủy mang mang,

Chinh nhân quy lộ hứa đa trường?

Tương tư bản thị vô bằng ngữ,

Mạc hướng hoa tiên phí lệ hàng.5”

Giọng ca tròn vành rõ chữ, người nghe cảm nhận được sự ấm áp lan vào tim, rất khoan khoái. Mười hai vũ cơ phất tay áo múa theo lời hát.

Eo lưng mềm mại như nhành liễu mảnh mai, uyển chuyển như hồ điệp vờn bay, khiến mọi người dự tiệc đều ngơ ngẩn.

Vũ khúc vừa ngừng, tiếng vỗ tay nổi lên như sấm, thiếu nữ áo lam tiến đến trước mặt Văn Tĩnh khom mình bái chào.

Vương Lập cười nói: “Thiên tuế! Người thấy ca vũ đất Thục có được không?”

Văn Tĩnh thành thật đáp: “Hát hay lắm.” rồi thầm nghĩ: “Đại quân Mông Cổ đã áp sát mà mấy người này vẫn còn tâm trí để thưởng thức văn nghệ, đúng là Trước quân lính chiến đầy nguy hiểm, Dưới trướng cô nàng vẫn múa ca6. Quan viên Đại Tống thực biết hưởng thụ.”

Lý Hán Sinh góp chuyện: “Thiên tuế sành từ và khúc, nên chăng điền thử một bài để nàng ta hát?”

Vương Lập luôn miệng khen phải rồi đưa mắt làm hiệu, thuộc hạ bèn mang bút mực dâng lên.

Bạch Phác và ba người kia mặt xám như tro, nhìn nhau, bụng bảo dạ: “Gay to rồi, thằng nhóc có biết điền từ7 hay không?”

Văn Tĩnh thần người một lúc rồi cầm lấy cây bút lông sói, tim Bạch Phác cũng nảy lên theo. Văn Tĩnh tập trung ngẫm nghĩ chốc lát, nhớ tới cảnh tượng đại giang ban nãy, quả thực chưa từng thấy sự tráng lệ hùng vĩ như thế bao giờ, tâm niệm xoay chuyển, lại nhớ tới Ngọc Linh, bóng giai nhân mờ dần lúc giã biệt, chỉ e không còn dịp gặp nhau, bất giác thấy chua xót khó tả, vung bút múa, thảo một bài Nhất tùng hoa lệnh:

Nhất giang li sầu lệ đông khứ, tống biệt hữu thanh sơn.

Bích nguyệt linh lung chiếu nhân hoàn, ức đương niên, kỷ đa bi hoan.

Vân thuỷ thâm xứ tà dương ảnh, thảo mộc thiên tế ảm;

Cô hồng thanh đoạn tầng vân lí, vô xứ mịch hương quan.

Can qua sự, tuỳ kinh đào vạn lý, nhật lạc xứ, phong lưu vân tán,

Quy khứ lai dã, hoàng lương mộng tỉnh, chẩm biên lệ lan can.8

Thiếu nữ áo lam đón tờ hoa tiên, nhíu mày. Bạch Phác và ba người kia thấp thỏm gần chết.

Thiếu nữ khẽ thở dài nói: “Bài từ này buồn quá, được mỗi câu Can qua sự, tuỳ kinh đào vạn lý, nhật lạc xứ, phong lưu vân tán là còn có hào khí một chút.”

Nhác thấy vẻ mặt đe doạ của những người xung quanh, cô ta thở dài, hé đôi môi đỏ định cất tiếng hát. Đột nhiên ngoài cửa có tiếng bước chân loạng choạng, rồi một tên lính lao vào, hét to: “Có chuyện lớn rồi.”

Nhận ra đó chính là viên chỉ huy toán thám mã ngoài thành, ai nấy đều sửng sốt.

Vương Lập giữ vững phong phạm của đại tướng, trầm tĩnh hỏi: “Chuyện gì mà hoảng hốt như vậy?”

Người đó nuốt nước bọt, thở hổn hển đáp: “Thám mã tiền phương báo về, đại quân Mông Cổ đã vượt qua Lư Châu, đang tiến về Hợp Châu.”

Vương Lập đứng phắt dậy, la thất thanh: “Gì cơ? Sao có thể như vậy được, lẽ nào Lư Châu thất thủ rồi?”

“Thuộc hạ đã phái người đi tìm hiểu thêm…”

Lúc đó ngoài cửa lại có tiếng vó ngựa gấp gáp, tất cả cùng ngó ra, thấy ngay một tên thám tử vừa tung mình từ trên ngựa xuống nói vội vã: “Lưu Chỉnh đầu hàng, Lư Châu đã rơi vào tay địch. Ngột Lương Hợp Thai đang dẫn ba vạn đại quân theo đường bộ tiến về Hợp Châu.”

Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, Vương Lập tức giận hỏi: “Đại Tống ta đãi Lưu Chỉnh không bạc, vì cớ gì mà y đầu hàng chứ?”

Lý Hán Sinh vuốt râu trầm ngâm: “Biết đâu trinh thám lầm lẫn?”

Lữ Đức nói: “Quân cơ đại sự, thà tin rằng có, đừng nghĩ rằng không. Lư Châu thất thủ, quân Mông Cổ nhất định sẽ tiến thẳng tới đây bằng cả hai đường thủy bộ. Nếu không kịp đề phòng, Hợp Châu có hề hấn gì, thiết kỵ của Mông Cổ nhất định sẽ thuận đường tiến về phía đông, bắt chước kế phá Ngô của Vương Tuấn9 ngày xưa để làm cỏ Giang Nam.”

Y chưa dứt lời, lại có tiếng vó ngựa từ xa dội tới, mọi người dao động, nhìn ra thấy một con tuấn mã đứng khựng ngoài cửa.

Kỵ sĩ bước nhanh vào phủ, quỳ lạy, trầm giọng nói: “Đại tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai dẫn mấy vạn quân tiên phong đang đóng trại cách Hợp Châu ba trăm dặm. Thuỷ sư Lư Châu là Sử Thiên Trạch làm soái, Lưu Chỉnh làm phó, theo dòng xuôi xuống đông, còn có tin Đại hãn Mông Cổ đã rời bản doanh Lục Bàn sơn dẫn mười vạn quân đến dịch trạm Kiếm Môn.”

Không khí tịch mịch, ánh mắt kinh hãi của mọi người đổ dồn cả vào Văn Tĩnh. Gã thiếu niên choáng váng vì những tin xấu liên tiếp, chẳng biết nên làm thế nào, đành lé mắt nhìn Bạch Phác.

Bạch Phác khẽ gật đầu, nói: “Binh quý ở chỗ thần tốc, bọn Thát đã giành được toàn những cứ điểm quan trọng, lúc này ngoài tử thủ ra thì không còn cách nào khác.”

Các đại tướng đều có suy nghĩ tương tự, Văn Tĩnh thầm nghĩ: “Nói cũng như không ấy, mặc kệ ai thắng ai thua, chẳng can hệ gì đến ta hết. Cứ ở mãi đây bị họ hỏi han thêm vài câu là cái đuôi chồn của ta thò ra ngay. Mấy ngày nay mệt quá sức rồi, phải sớm…”

Vương Lập khom mình, ngắt đoạn suy nghĩ của gã: “Bạch tiên sinh nói có lý, chẳng hay thiên tuế còn mưu kế gì không ạ?”

Văn Tĩnh buột miệng không suy nghĩ: “Ngủ.”

“Ngủ ạ?” Chúng tướng ngẩn người ngơ ngác, trố mắt há miệng, ngây đuỗn như một lũ tượng đất trong thổ miếu.

Văn Tĩnh lỡ miệng, than khổ khôn nguôi, đâm lao đành theo lao: “Ngày mai Mông Cổ chắc sẽ đem quân đến dưới thành. Đại chiến sắp nổ ra rồi, nếu không nghỉ ngơi tĩnh dưỡng thì làm sao ứng phó được?”

Lý Hàn Sinh cảm thán: “Thiên tuế thực có phong độ của đại tướng. Chúng thuộc hạ như kiến bò chảo nóng, chẳng biết làm thế nào, chỉ có thiên tuế tâm định khí nhàn, suy tính quả sâu sắc.”

Vương Lập biểu tán đồng: “Lời nói thật diệu quá, kế sách trước mắt, nghỉ ngơi là quan trọng nhất.” đoạn hạ lệnh: “Cho quân sĩ trong thành dưỡng sức đêm nay, ngủ một giấc thật thoải mái, tinh thần đầy đủ rồi sẽ quyết bề thắng phụ với bọn Thát…”

Văn Tĩnh chẳng ngờ họ lại nghe lời đến thế, cảm thấy ngạc nhiên vô cùng, tự nhủ: “Nếu mọi người đều ngủ như heo chết để quân Mông Cổ đánh vào thì chẳng phải mọi tội lỗi đều trút lên mình ta sao? Hai lão già các ngươi tính khéo ghê!”

Gã quét mắt nhìn khắp lượt rồi dừng lại ở Lữ Đức, nghĩ bụng: “Người này vừa rồi kiến giải cao minh lắm, nhất định sẽ đóng một vai trò lớn trong đại sự đây.” đoạn cất tiếng gọi: “Lữ Đô đốc.”

Lữ Đức vâng dạ tiến lên, Văn Tĩnh trầm ngâm chốc lát rồi nói: “Ông chia quân sĩ trong thành ra năm nhóm, bốn nhóm đầu hết một canh giờ lại đổi ca một lần, nhóm cuối cùng nghỉ ngơi hoàn toàn để chuẩn bị việc thủ thành ngày mai.”

Lữ Đức lĩnh mệnh. Văn Tĩnh lại nói với Hướng Tông Đạo: “Hướng Thống chế! Ông dẫn bốn trăm khinh kỵ đi tuần quanh thành. Trong vòng một trăm dặm, hễ phát hiện có quân Mông Cổ thì lập tức dùng phương pháp Phong hoả thời cổ đại, lấy lửa làm hiệu truyền tin về thành.”

Hướng Tông Đạo vâng lệnh, thầm nghĩ với sự kinh ngạc tột độ: “Việc này giao cho thuộc hạ là được, bắt ta làm khác nào dùng dao mổ trâu để giết gà?”

Văn Tĩnh liếc mắt về phía Vương Lập và Lý Hán Sinh, bụng bảo dạ: “Thế là an toàn rồi đấy.”

Lý Hán Sinh không bỏ qua cơ hội tâng bốc, nói ngay: “Thiên tuế suy tính thật chu toàn.”

Vương Lập vuốt râu: “Đúng thế, chúng ta cũng nên học tập phong độ của thiên tuế…” Vốn dĩ ông ta định nhắc đến việc tiếp tục tửu yến, nhưng cảm thấy không ổn, nên không nói hết câu.

Sau đó mọi người giải tán, Vương Lập đưa Văn Tĩnh đến Trúc Hương viên nghỉ ngơi. Khu vườn này trồng toàn trúc xanh, gió thổi bóng trúc lay động, trông thật xao lòng dưới ánh trăng.

Văn Tĩnh theo Vương Lập vào một căn tịnh xá. Bên trong trần thiết trang nhã, bốn tỳ nữ kiều lệ phong tình tươi cười nghênh đón, toan cởi áo tắm gội cho gã. Văn Tĩnh hoảng hồn nắm chặt lấy đai lưng, nói nhanh: “Ta tự làm là được rồi.”

Vương Lập ngạc nhiên nghĩ bụng: “Hoài An vương dòng dõi hoàng gia, nghe nói trong phủ mỹ nữ vô số, sao hôm nay lại trái thói thế? Phải chăng chê mấy con bé này không đủ đẹp?”

Ông ta trầm ngâm, cung tay cáo từ.

Văn Tĩnh tắm gội xong xuôi, toàn thân thư thái, đi ra khỏi phòng. Trong sảnh đã có thêm một nữ tỳ nữa. Người đó vừa trông thấy gã liền cúi mình chào. Văn Tĩnh đỏ mặt tía tai, cúi đầu đi qua bên cạnh, chợt nghe thấy người ta thỏ thẻ gọi: “Thiên tuế!”

Văn Tĩnh ngoảnh đầu nhìn, nhận ra chính là thiếu nữ áo lam hồi tối ca bài từ trong phủ Kinh lược. Cô ta ăn mặc theo lối tỳ nữ nên vừa rồi Văn Tĩnh không nhận ra, nay nhận ra rồi cũng nên chào hỏi cho phải phép, gã đành lắp bắp: “Cô… đến đây làm gì vậy?”

Thiếu nữ nói sau một hồi cúi đầu im lặng: “Thiên tuế chắc phải hiểu rõ hơn Nguyệt Thiền chứ.”

Không quen với lối nũng nịu phong tình ấy, Văn Tĩnh hỏi “Hiểu gì cơ?”

Nguyệt Thiền định nói lại thôi, Văn Tĩnh bảo luôn: “Ta buồn ngủ lắm, có chuyện gì đợi mai hãy hay!”

Nguyệt Thiền hỏi: “Thiên tuế có muốn nghe thiếp hát một khúc không?”

Văn Tĩnh lắc đầu, đi tuột vào phòng ngủ, đóng cửa và khoá trái, thở phào nghĩ: “Coi như qua được một đêm.”

Gã trèo lên giường, vốn dĩ muốn ngủ, nhưng ruột rối như tơ vò, không sao bình tĩnh được, cuối cùng chỉ tơ tưởng đến bóng dáng xinh đẹp mà ranh mãnh nọ.

“Chẳng biết còn gặp được nàng nữa không?” Văn Tĩnh buồn rầu: “Có lẽ đời này kiếp này không còn được nhìn thấy nàng nữa rồi.” Nghĩ tới đây, gã chua xót suýt khóc. Bỗng nhiên nghe thấy đằng xa tiếng ngâm xướng vẳng lại, Văn Tĩnh lắng tai, nhận ra chính là bài Nhất tùng hoa lệnh gã điền hồi tối mà chưa kịp hát, tiếng ca dặt dìu thanh tao chứa nỗi sầu man mác. Tâm trạng Văn Tĩnh khéo hợp với giai điệu đó, nghe hồi lâu bất giác si dại, gã khoác áo bước ra, trông thấy Nguyệt Thiền tắm mình trong ánh trăng mờ ảo, đang chậm bước bên bụi hoa, tay cầm một tờ giấy, ngâm nga khe khẽ.

Nghe tiếng kẹt cửa, cô gái ngoảnh đầu nhìn, biến sắc thi lễ: “Tỳ tử vô phép, phải chăng đã quấy nhiễu giấc mộng của thiên tuế?”

Mặt Văn Tĩnh đỏ như gà chọi, gã lắc đầu, lúng túng nói: “Không… không phải, cô hát hay lắm.” Ngừng một lát, gã nuốt nước bọt: “Chỉ tại ta điền từ không ra gì…”

Nguyệt Thiền mỉm cười: “Đâu phải chuyện hay dở… có điều từ của thiên tuế khác với trước đây.”

Văn Tĩnh giật mình: “Chẳng lẽ cô ta quen đồ thật, và đã nhìn ra chỗ sơ hở của đồ giả này rồi ư?”

“Thiếp đã từng xem từ của thiên tuế ở chỗ Vương Kinh lược, quả thực hào sảng, khí trùm thiên hạ, nuôi hùng tâm đuổi Thát, bình trung nguyên.” Nguyệt Thiền nhìn Văn Tĩnh, lắc lắc đầu: “Nhưng bài từ này của thiên tuế thì khác hẳn.” Nói tới đây cô ta thở dài. Văn Tĩnh hơi yên dạ, bảo: “Muộn rồi đấy, cô đi ngủ đi!”

Nguyệt Thiền cúi đầu: “Vương Kinh lược sai thiếp tới thị hầu cho thiên tuế ngon giấc. Người còn chưa ngủ được, tỳ tử nào dám đi nằm trước?”

Văn Tĩnh không hiểu ẩn ý của nàng, bèn nói: “Được rồi, ta về ngủ đây.”

Gã bước vào phòng, Nguyệt Thiền vào theo. Văn Tĩnh nói: “Ta sắp ngủ, cô theo ta làm gì?”

Nguyệt Thiền ngẩn người: “Thiên tuế không cho tỳ tử hầu hạ ạ?”

Văn Tĩnh đáp: “Ta có chân có tay, sao phải bắt cô hầu hạ?”

Nguyệt Thiền che miệng cười: “Thiên tuế thực biết đùa.”

“Ta đùa gì cô?” Văn Tĩnh gãi tai, thấy nàng cười đâm thắc mắc.

Nguyệt Thiền thở dài: “Thiên tuế ghét tỳ tử chăng? Tỳ tử tự biết mình xấu xí…”

“Ai ghét cô, cô rất đẹp mà!” Văn Tĩnh sốt sắng nói.

“Thật ư?” Hai má Nguyệt Thiền đỏ bừng lên dưới ánh nến, nàng áp đầu vào ngực Văn Tĩnh: “Thiên tuế…”

Văn Tĩnh giật lui, giữ lấy nàng hỏi: “Cô… không được khỏe ư?”

“Té ra thiên tuế vẫn ghét bỏ tỳ tử.” Mắt đỏ hoe, Nguyệt Thiền cúi mình: “Nếu vậy thiếp không quấy nhiễu người nữa.” Nói xong nàng quay đầu đi ra.

Văn Tĩnh đang thắc mắc, chợt nghe văng vẳng có tiếng hú dài, gã nhảy vọt ra ngoài, thấy trên mái nhà đằng xa có hai bóng người, một trước một sau, xẹt đến như chớp, ban đầu cự ly quá xa, nhưng chỉ chốc lát, người đằng sau đã đến gần.

Nguyệt Thiền mặt hoa thất sắc, nép sát vào người Văn Tĩnh: “Thiên tuế, gì thế kia?”

Văn Tĩnh cảm thấy thiếu tự nhiên, nhưng thân là nam nhi, không tiện lùi lại, bèn ưỡn thẳng người, nói lớn: “Đừng sợ!”

Gã chưa dứt lời, bóng đen đã từ mái nhà đáp xuống, đứng trong sân, đối diện với Văn Tĩnh. Hai bên cùng sững sờ, người nọ kêu lên: “Đồ ngốc, ngươi đấy à?”

Văn Tĩnh không ngờ còn được gặp lại nàng, vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ đáp: “Tôi đây!”

Tiêu Ngọc Linh vận đồ dạ hành càng làm nổi bật nước da thắng tuyết, nghe Văn Tĩnh đáp với giọng thân thiết như vậy, nàng bất giác mềm lòng: “Ngươi vẫn nhớ ta ư?” Đảo mắt nhìn thấy Nguyệt Thiền bên cạnh gã, nàng nổi giận chửi: “Thì ra ngươi cũng một giuộc với bọn đàn ông vô sỉ khác!”

Văn Tĩnh nghe nàng mắng mình vô sỉ, không hiểu thế là ý gì, đương tần ngần lại thấy Bạch Phác phất tay áo rộng lướt tới như ngự gió, từ mái nhà đáp xuống, chân chưa chạm đất đã gập quạt điểm vào Ngọc Linh. Ngọc Linh trở tay búng ra một đao. Bạch Phác gõ cán quạt lên thân đao, lật mình chắn xuống trước mặt Văn Tĩnh, mỉm cười nói: “Ngươi to gan quá đấy, hôm nay có mọc cánh cũng đừng hòng thoát thân.”

Ngọc Linh phì một tiếng, vung đao lên trước toan đấu với Bạch Phác. Tiếng báo động nổi lên bốn bề, Văn Tĩnh lo cuống kêu: “Bạch tiên sinh…” Bạch Phác nghe gọi hỏi: “Thiên tuế có gì căn dặn?” Trong lúc hỏi y đã kịp chặn ba đao một cước của Ngọc Linh.

Văn Tĩnh vốn muốn xin Bạch Phác thả Ngọc Linh, vừa lúc lính gác ùn ùn đổ tới, huơ đao múa thương vây chặt hai người vào giữa, gã im bặt. Vương Lập bị kinh động cũng chạy đến, thấy vậy kêu: “Bạch tiên sinh! Ông lùi ra để quân sĩ bắt ả.”

Bạch Phác cười đáp: “Khỏi cần.” Y trở mình né một đao, quạt gấp bật khỏi tay áo, như con rắn mổ vào huyệt Nghênh Hương của Ngọc Linh. Cô gái nhảy tót sang trái, Bạch Phác dịch chuyển như du long, xoay mình một cái vòng ngay đến mé tả Ngọc Linh, quét tay áo rộng vào hông nàng. Ngọc Linh lảo đảo giật lui, lưng đụng vào một cây ngải hoa, khoé miệng rịn máu.

Văn Tĩnh cả kinh nhoài lên, Bạch Phác chìa tay ngăn lại. Gã thiếu niên chuyển bộ pháp, Bạch Phác tức thì chặn hụt, ngạc nhiên không hiểu ra sao. Trong lúc ấy Văn Tĩnh đã vùng đến bên Ngọc Linh, giơ tay đỡ nàng. Cô gái hừ mũi vung đao chém, Văn Tĩnh vội vã né tránh khiến nàng mất thăng bằng ngã nhào xuống đất, hai tên lính tiến lên toan bắt. Văn Tĩnh lắc mình, phất song chưởng, đẩy theo đà của hai tên đó, chúng ngã sấp mặt, mồm đầy đất cát.

Quan sát gã phô diễn võ công, Bạch Phác rất lấy làm kinh ngạc, tự hỏi: “Lộ công phu kia rõ ràng là của phái ta, thằng nhóc này học ở đâu thế nhỉ?”

Vương Lập gọi Văn Tĩnh: “Thiên tuế tránh ra đi, con giặc cái đó nguy hiểm lắm!”

Văn Tĩnh không đáp, cứ che chắn trước mặt Ngọc Linh.

Vương Lập và Bạch Phác nhìn nhau ngơ ngác, chưa biết xử sự thế nào. Đúng lúc ấy từ một góc có tiếng ho vọng ra, Văn Tĩnh giật thót liếc trông, gặp ngay đôi mắt tức giận của Lương Thiên Đức, đứng bên cạnh lão là Đoan Mộc Trường Ca và Nghiêm Cương. Cơ mặt gã thiếu niên giật giật, cuối cùng không chịu nổi ánh mắt của ông bố, gã bước dịch sang bên.

Bạch Phác rảo bước tới, bắt lấy Ngọc Linh. Vương Lập hỏi: “Thiên tuế, nên xử ả này thế nào?”

Bạch Phác liếc Văn Tĩnh. Gã trai gần như rơi nước mắt, khẽ nói: “Cô ấy đã bị thương rồi, đừng… đừng làm khó cô ấy…”

Ngọc Linh hơi thở rối loạn, nhưng khẩu khí vẫn rất quật cường: “Ai… ai cần ngươi thương hại?”

Vương Lập không nhận ra uẩn khúc bên trong, nói luôn: “Thiên tuế đã dạy như vậy, tạm thời nhốt ả vào thạch lao trong phủ.”

Bạch Phác nhìn Văn Tĩnh, gật gật đầu, điệu Ngọc Linh đi về hướng nhà giam. Văn Tĩnh trông theo hai người, bối rối chẳng biết làm thế nào.


oOo


Bá Nhan gò cương ngựa, tiếng vó câu gấp rút phía sau cũng chậm lại. Y phóng mắt nhìn thành quách nơi xa hồi lâu rồi nói vẻ cảm thán: “Hợp Châu thành như mãnh hổ phục bên dòng sông, như chim ưng đậu nơi đầu núi, dễ thủ mà khó công, không thể xem thường.”

A Thuật nhướng mày, hiu hiu tự đắc: “Đại quân Mông Cổ ta hễ tấn công là thắng, một cái thành này thì đáng kể gì?”

Bá Nhan cau mày hỏi: “Vậy phải tấn công thế nào đây?”

Khuôn miệng có hàng ria mép măng tơ của A Thuật cong lên quỷ quái, gã nói: “Mình tỏ vẻ yếu ớt, dụ quân Tống ra ngoài thành, sau đó cắt đứt đường rút lui của chúng, đánh cho tan tác trên đồng dã!”

Bá Nhan không nhận xét gì, thở dài nhìn dòng sông cuồn cuộn. Tên binh sĩ truyền lệnh bỗng từ đằng sau phóng ngựa tới, dõng dạc nói: “Ngột Lương Hợp Thai tướng quân có lệnh, hai người đóng trại cách Hợp Châu một trăm hai mươi dặm, chuẩn bị công thành!”

Bá Nhan biến sắc: “Sao gấp vậy?”

“Lệnh truyền được đấy!” A Thuật cười ha hả, mắt loé sáng: “Hôm nay phá Hợp Châu luôn.”

oOo


Văn Tĩnh lo âu đứng trên đầu thành, các tướng xúm quanh. Ở rất xa, giữa những quả núi trọc thù lù, dãy lều Mông Cổ trắng muốt trải dài nhấp nhô theo thế núi quanh co. Dưới thành gió thu rét mướt thổi tới, cuốn thốc bụi mù lên tan tác giữa trời.

Một nhịp Hồ già10 phiêu phất bốc khỏi mặt đất, hoà với tiếng trống da trâu tạo nên âm thanh kinh hồn giữa không trung. Từ đại doanh Mông Cổ, nhân mã ùn ùn kéo ra như nước triều. Ba vạn quân dàn hàng một tiến lên giữa những thân cỏ khô vàng, chiến mã hí vang trong gió thu hiu hắt. Đoàn quân Mông Cổ rùng rùng áp sát thành Hợp Châu.

Tiếng trống trận khiến Văn Tĩnh sực tỉnh. Quân Mông Cổ đẩy một cái thang mây11 to tướng đến, tựa vào sườn núi leo lên. Trên đầu thành đá nhám, hàng ngàn hàng vạn cung cứng nỏ mạnh đã kê vào các lỗ châu mai, máy bắn đá nong đầy đá cạnh nhọn, dây buộc vào những con lăn cũng đã được căng ra.

Thang còn cách thành chừng ba trăm bộ, hàng vạn lính Mông Cổ đã hò hét vang trời, ồ ạt xung phong. Tiếng bựt bựt cung tiễn và tiếng con lăn đá vần ồ ồ vọng lên khoảng trời trên triền núi. Chiến binh Mông Cổ bật kêu gào thảm thiết, tên mạnh xuyên qua những tấm giáp ngực bằng da thuộc của họ, mũ đồng lõm rúm dưới sức nặng của những tảng đá bay, máu thịt phòi ra khỏi kẽ hở của bộ áo, bắn toe toét xuống nền cỏ xanh. Loạt lăn gỗ nặng trịch đẩy bật ngửa cái thang mây cao lừng lững, đè nghiến xuống đám binh sĩ, chúng kêu lên những tiếng rách phổi. Văn Tĩnh đứng xem, hai chân bủn rủn, toàn thân đẫm mồ hôi, ba mươi sáu cái răng va nhau lập cập, gã cảm thấy những việc đáng sợ đã gặp trong đời chẳng đáng gì so với cảnh tượng này hết.

Gặp tên mạnh đá cứng, lính Mông Cổ dần dần chống đỡ không nổi, phải lùi lại phía sau. Quân Tống sĩ khí dâng cao, mấy vạn binh sĩ thủ thành nhất tề reo hò vang dội, tiếng reo hoà với tiếng sóng dập dồn nơi xa, ngân nga không dứt.

“Phiu”. Một ngọn tiễn dài lướt bóng qua vòm không, xuyên thủng người một tên lính phất cờ. Đại kỳ tuột tay người, đảo một cái trên cao, sau rớt xuống nền cỏ dại hoen máu.

Quân Tống vụt im phăng phắc, phóng mắt nhìn ra: trông thấy xa xa bên dưới có một con ngựa đen tuyền, vó tung bay, bờm lất phất, trên mình nó là một viên tướng áo bào xanh lam, tay giương cung cứng ngắm lên đầu thành. Chợt “Phiu” một tiếng nữa, ngọn tiễn thứ hai đã tới nơi, xuyên thấu người một tên lính bắn nỏ, đà tên không dừng ở đó, tiếp tục bay lút vào ngực một đồng đội đứng sau y.

Nghiêm Cương trố mắt thét to “Lại là hắn!”

“Có nhẽ đâu thế, hắn bắn tên kiểu gì...” Vương Lập hãi hùng kêu lên. Nên biết khoảng cách từ chỗ Bá Nhan đến đầu thành phải tới sáu bảy trăm bộ, huống hồ ở tư thế hướng lên cao, muốn tên cạp đích và mạnh đến vậy, ít nhất xạ thủ phải bắn được ở cự li một ngàn bộ. Trong thành Hợp Châu, ngoài cỗ Phá sơn nỗ12 do mười người điều khiển, những tay nỏ bình thường đừng mơ đến chuyện bắn xa như thế.

Vương Lập chưa dứt lời, mũi tên thứ ba đã cận kề. Bạch Phác nhanh tay tinh mắt nhoài lên trước, giơ quạt gấp gõ một cái, mũi tên mất hướng, bay chệch đi, xọc vào đầu một thân binh đứng sau Vương Lập.

Sau ba mũi tên, Bá Nhan đã phi ngựa tới trước hàng quân. Lính Mông Cổ phấn chấn cao độ, hò reo như vỡ trời, rầm rập tiến theo chiến mã của hắn.

Vương Lập ra một hiệu lệnh. Tên và đá liền trút xuống rào rào, Quân Mông Cổ đội mưa tiễn, lần thứ hai dựng thang lên. Dưới thành, xác chất thành đống máu me, người bị thương rên la đau đớn. Bá Nhan luôn tay bắn tên, mỗi lần tên bay, một người gục ngã, không bắn chệch lấy một lần, mặc dù vậy quân Tống trên thành vẫn chiếm được địa lợi, giằng co chừng nửa canh giờ, quân Mông Cổ dần dần lùi lại sau.

Hướng Tông Đạo thấy thế bèn thưa với Vương Lập: “Bọn Thát bải hoải rồi. Lúc này mà thúc quân tấn công nhất định giành được phần thắng, xin Kinh lược sứ hạ lệnh, cho phép thuộc hạ dẫn người đánh ra, bẻ gãy nhuệ khí của chúng.”

Vương Lập gật đầu hỏi Văn Tĩnh: “Thiên tuế thấy thế nào?”

Bạch Phác lúc đó đang đứng sau lưng Văn Tĩnh, nghe vậy nói: “Không được, quân Thát tuy đã tổn thất nặng nề, nhưng tiến lùi đều theo chương pháp, hoàn toàn không có dấu hiệu gì là chán nản bải hoải cả.”

“Đúng đấy.” Lương Thiên Đức cũng vuốt râu gật đầu: “Trận thế của chúng chưa rối loạn đến mức không rút quân một cách chỉnh tề được.”

Vương Lập lộ rõ oai quyền, cau mày gạt phắt: “Hai người chẳng qua chỉ là thủ hạ của thiên tuế, quốc gia đại sự đâu đến lượt các ngươi chen vào?” đoạn quay sang nói với Văn Tĩnh: “Cơ hội tốt như thế, lỡ rồi là mất.”

Văn Tĩnh nhủ bụng: “Bố thực đa sự, việc này liên quan gì đến chúng ta, cứ mặc kệ lão ấy đi.” Nghĩ tới đây, gã bảo: “Vậy thì làm theo đề xuất của Hướng thống chế.”

Thấy gã không chấp nhận ý mình, Bạch Phác thở dài. Lương Thiên Đức cũng cau mày, đột nhiên vòng tay nói: “Nếu Hướng thống chế không chê, Lương mỗ nguyện làm một quân tốt đen.”

Văn Tĩnh cả kinh, song không biết nên phản đối thế nào. Hướng Tông Đạo liếc Vương Lập. Vương Lập im lặng nhìn Văn Tĩnh. Cho rằng gã bằng lòng, ông ta chực lên tiếng đồng ý, vừa lúc Tiết Dung bước ra nói to: “Anh em tôi cũng võ vẽ mấy đường cung mã, không muốn ẩn nấp đằng sau, xin thiên tuế và Kinh lược sứ ưng thuận để chúng tôi theo Hướng thống chế, cùng quân Thát so tài cao hạ.”

Vương Lập quét mắt nhìn mọi người, cười bảo: “Thì ra Đại Tống toàn những nhiệt huyết nam nhi. Được! Các vị hãy cùng Hướng thống chế xuất kích, cho hoàng đế Thát nếm mùi oai phong của chúng ta.”

Mọi người dạ ran vâng lệnh. Cửa thành mở, tám ngàn quân tinh nhuệ ào ào lướt ra, hệt như mũi đao sắc bén. Đại quân Mông Cổ đang rút lui lập tức bị cắt đứt thành hai, cung nỏ tên bắn rào rào, binh sĩ kêu gào thảm thiết, tiếng gào thấu tận trời xanh. Hướng Tông Đạo ra lệnh biến trận, mũi tấn công vừa thọc sâu lập tức rút về, để lại một vạn kẻ địch tơi bời hỗn loạn. Lương Thiên Đức mình vận nhuyễn giáp, phi ngựa hàng đầu, tay cầm trường thương, múa tựa tuyết bay, tấn công như vũ bão.

Lữ Đức buột miệng thốt: “Thương pháp giỏi lắm!”

Trên thành, thấy quân Mông Cổ rối loạn, mọi người cũng hớn hở, xôn xao khen ngợi. Văn Tĩnh chỉ quan tâm đến sự an nguy của cha, tay chống vào lan can lạnh ngắt, chăm chú theo dõi. Tuy chưa chinh chiến bao giờ, nhưng gã rất giỏi quan sát tình thế để từ đó suy đoán tâm ý đối thủ. Quan sát một lúc, gã bỗng nhận ra đại quân Mông Cổ có vẻ rối loạn, thực ra nửa như vô tình nửa như cố ý, đang lùi đến phía dưới thành Hợp Châu.

“Không hay rồi.” Trong lòng Văn Tĩnh gợn lên một ý nghĩ đáng sợ: “Chẳng lẽ là…” tức thì mồ hôi lã chã, gã gọi Vương Lập: “Mau mau thu binh…”

Vương Lập định tăng viện xuất kích đánh gãy cánh quân tiên phong kia, chợt nghe Văn Tĩnh bảo thu binh, ông ta thắc mắc muốn hỏi, bỗng một hồi tù và rúc lên xé rách vòm không, trận chiến dưới thành đột ngột thay đổi ghê gớm. Quân Mông Cổ dịch chuyển nhanh như chớp, từ một tách làm hai. Bá Nhan chạy cánh trái, A Thuật chạy cánh phải, vạch thành hai vòng cung trơn mịn trên trận địa, cách li tám ngàn quân của Hướng Tông Đạo khỏi thành Hợp Châu. Bá Nhan căng cung. Mũi tên bắn đi, xuyên qua chiếc khôi toả tử liên hoàn13 của Hướng Tông Đạo, mất lút vào trong đầu y. Khôi giáp của Hướng Tông Đạo làm bằng thép lạnh tinh luyện, cứng lạ thường, mũi tên tuy lún vào thịt bốn phân nhưng vẫn chưa đến nỗi chí mạng. Hướng Tông Đạo nhịn đau dẫn quân đột phá vòng vây. Thình lình A Thuật lao vào qua hàng người, vung thương đâm thẳng vào mặt y. Hướng Tông Đạo mặt mày đầy máu, lộn nhào từ trên ngựa xuống, lập tức nhão thành thịt nát dưới chân đám loạn quân.

Chủ tướng táng mạng, binh sĩ hoang mang. Quân Mông Cổ một trái một phải, như hai con rồng khổng lồ, tiến lùi quẫy động, cung tiễn đao thương tràn đi như chẻ tre. Quân Tống vỡ trận, máu thịt tơi tả, tử thương vô số. Sĩ khí Mông Cổ dâng cao, tiếng trống da trâu vang rền như sấm, Hợp Châu rung chuyển theo, chư tướng trong thành ai nấy tái mét mặt.

Lương Thiên Đức quất thương thúc ngựa phi nước đại, lại lấy cung tiễn ra, liếc thấy một viên Thiên phu trưởng, lão vừa phi vừa bắn. Kẻ đó ngã nhào. Lương Thiên Đức vung thương hú dài: “Theo ta.”

Quân Tống bị đánh giết, mười phần thiệt đến bốn, sáu phần còn lại cũng như rắn mất đầu, chạy quáng chạy quàng, nghe thấy tiếng hú gọi, không màng phân biệt thật giả, phần lớn đều lao theo lão. Ở phía đó quân Mông Cổ mất thủ lĩnh, tinh thần tạm thời hơi rối loạn. Lương Thiên Đức thúc ngựa phi, bắn tên hai bên trái phải, mau chóng giết chết mười người, quân Tống theo sau phấn khởi, cùng dốc sức phá được một lỗ nhỏ trong vòng chiến cứng và rắn như cái thùng thép của Mông Cổ.

Bỗng tiếng tên bắn lăng lệ vô tỉ rít vang. Bá Nhan đã tới!

Như có mắt sau lưng, Lương Thiên Đức lật tay múa cung. Mũi tên mạnh đến mức tưởng chừng xuyên thủng đá vàng đâm nghiến vào cánh cung lão. Liền đó lão cúi rạp mình, để mũi tên thứ hai của địch nhân bay sượt qua đỉnh đầu. Khôi rơi xuống đất, mái tóc hoa râm theo gió tán tác bay.

Kinh hoàng, nhưng không khiếp nhược, Lương Thiên Đức rùn người bắn trả bằng chính mũi tên của đối phương. Bá Nhan né mình tránh, chưa kịp hồi thủ, từ sau lưng đã xẹt tới ba ngọn tiễn như lưu tinh. Người xuất thủ chính là anh em họ Tiết.

Cặp mắt tròn loé sáng, Bá Nhan lật tay, nhẹ nhàng bắt gọn ba mũi tên. Tiết gia huynh đệ thảng thốt thầm nghĩ: “Thủ pháp quen thuộc quá.” Bá Nhan hành động nhanh như chớp, không đợi họ phát loạt tiễn thứ hai, y đặt luôn ba mũi tên lên cánh cung dài sáu thước.

“Phiu phiu phiu…” Giữa bốn người, sáu ngọn tiễn cùng lúc rời cung, lao vào nhau. Tiễn Bá Nhan mang cường lực kinh thế hãi tục, đâm gãy loạt tên của anh em họ Tiết, gạt chúng rơi hết xuống đất. Kế đó đà bay vẫn mạnh, ba mũi tên tiếp tục lao thẳng đến ba người. Chuyện xảy ra quá đỗi bất ngờ, Tiết Phương lắc mình không kịp, bị tên xuyên ngực, chết tốt.

Tiết gia huynh đệ xuất thân thợ săn. Từ ngày vào nghề, đi rừng luyện võ đến khởi nghiệp mưu sinh, họ đều bên nhau, ba người mà chẳng khác nào một thể. Tiết Phương táng mạng, hai anh em còn lại lòng đau như cắt, lập tức cùng xốc ngựa phóng chếch đi, ép cánh Bá Nhan từ hai mé, phát tiễn liên châu. Bá Nhan thúc chân khiển ngựa, phi vòng tròn, tay trái giương cung, tay phải khua nhẹ, gạt rơi bốn mũi tên, đón lấy rồi nhanh như chớp đặt chúng lên dây cung.

Tiết Dung nhận ra Như Ý Ảo Ma thủ, thầm nghĩ “Tên Thát đó là đồng bọn của gã áo đen…” Ý nghĩ chưa trọn, một mũi tên đuôi lông vũ đã bắn tới như sấm sét, xé rách yết hầu hắn. Tiết Dung ộc ra một màn máu, còn kịp liếc thấy ở đằng kia Tiết Công vừa ngã xuống, móng ngựa lập tức dẫm lên đầu y, óc trắng máu đỏ phọt tung toé.

Lương Thiên Đức dẫn nhóm tàn quân đột phá vòng vây, thi triển thương pháp tinh tuyệt tả xung hữu đột, giết liền mấy tướng, vừa đánh vừa lùi. A Thuật cho quân tấn công vu hồi, cố sức khoá đường rút, bản thân gã múa thương nghênh đón Lương Thiên Đức. A Thuật tuổi còn nhỏ nhưng thương pháp thực không thể xem thường. Gã múa thương như giao long xuất hải, chiêu thế kỳ quái, đấu một trận ngang ngửa với ông già.

Vương Lập quan sát tình hình, lại phái thêm quân ra ngoài thành cứu viện. Mấy vạn người chém giết nhau từ chiều tới tối mịt. Binh tướng Mông Cổ kiêu dũng, quân Tống không dám giằng co lâu, dần dần rút chạy. Ngột Lương Hợp Thai đứng quan chiến, liệu chừng hôm nay khó bề giành được lợi thế gì hơn nữa, nếu đuổi theo nhất định sẽ hứng loạn tiễn trên bờ thành trút xuống, ông ta bèn hạ lệnh thu binh. Sau trận đấu, song phương đều tổn thất trầm trọng, có điều, Mông Cổ chưa dùng tới tinh binh mà tám ngàn quân tinh nhuệ của Đại Tống thì đã thiệt hại quá nửa, đúng là chó cắn áo rách.

Quân Mông Cổ từ từ rút lui. Đám tướng lĩnh trên đầu thành Hợp Châu trái tim trĩu nặng, thở không ra hơi. Vương Lập nhìn Lương Thiên Đức trong bộ áo giáp nhuộm máu, nản lòng vô cùng, đau xót than: “Hôm nay không nghe lời Bạch tiên sinh nên tổn thất đến mức này, cũng may nhờ Lương tráng sĩ chèo chống, bằng không… ôi…” Quay sang Văn Tĩnh, ông ta ôm quyền, “Xin thiên tuế trách phạt.”

Văn Tĩnh thấy cha bình an vô sự thì rất mừng rỡ, đừng nói gã không dám trách phạt, mà dù có cái quyền ấy thật, chưa chắc gã đã muốn truy cứu, liền lắc lắc đầu, đi thẳng xuống thành.

Về đến phủ Kinh lược, thị nữ dâng sơn hào hải vị, cơm rượu thịnh soạn, Văn Tĩnh gắp mấy miếng rồi gác đũa sang một bên, chống má trầm tư.

Nguyệt Thiền dè dặt hỏi: “Cơm nước không ngon ư?”

Văn Tĩnh thở dài: “Cô không hiểu đâu.”

“Vì mỹ nhân áo đen đó phải không?” Nguyệt Thiền nói, giọng xa xót.

Văn Tĩnh ngạc nhiên: “Sao cô biết?”

Nguyện Thiền khẽ than: “Đêm qua khi thiên tuế gọi nàng, thiếp nghe rất rõ, sau đó thiên tuế lại công khai bênh vực nàng…”

Văn Tĩnh nhợt mặt: “Ta… ta…”

Nguyện Thiền nhẹ nhàng nói: “Thiên tuế buồn bã thế này, lòng Nguyệt Thiền cũng không được vui. Người đã mến thích, vì sao không trực tiếp đi gặp nàng?”

“Liệu có được không?” Văn Tĩnh gấp rút hỏi.

Nguyệt Thiền cười: “Sao mà không được, ai dám ngăn cản người đây?”

Văn Tĩnh ngẩn mặt, sực hiểu: “Rõ hồ đồ, hiện tại ta là Hoài An vương kia mà!”

Nghĩ tới đó, gã co cẳng chạy, mới được vài bước lại quay ngoắt về, nhặt mấy món ăn nhẹ màu mè trên bàn ôm vào ngực. Nguyệt Thiền thắc mắc, ngạc nhiên nhìn gã. Văn Tĩnh đỏ mặt, lúng túng bảo: “Với tính khí của nàng ấy, nhất định đến hôm nay cũng chưa chịu ăn uống gì.” Nói rồi chạy biến đi.

“Thiên tuế thực có lòng.” Nguyệt Thiền nhìn theo bóng gã, lắc đầu cười buồn.

Đến được gần nhà lao mà không bị ai cản trở, bỗng trông thấy Bạch Phác từ phía trong đi ra, Văn Tĩnh vội vàng chạy đến nấp bên hòn giả sơn. Bạch Phác cau mày, tựa hồ có điều phiền muộn, thở dài đi xa dần. Văn Tĩnh đợi y khuất dạng mới bước ra. Lính gác gặp thiên tuế, tự nhiên không dám căn vặn. Văn Tĩnh theo hành lang đi vào, tường đá rêu lên xanh rờn, không khí rất ẩm ướt. Nhòm qua khe cửa nhà lao, Văn Tĩnh trông thấy Ngọc Linh thần sắc tiều tụy, quanh mình quấn ba sợi xích sắt to, hai sợi ở tay, một ở chân, bên cạnh đặt ít thức ăn, quả nhiên chưa hề động đến. Gã bất giác xót xa, tự nhủ: “Cô đến làm gì? Thứ thiên tuế giả hiệu như tôi đây làm sao mà cứu được cô!”

Gã đẩy cửa vào. Ngọc Linh lạnh lùng liếc mắt, hừ một tiếng, ngoảnh phắt đầu đi. Văn Tĩnh đứng ngẩn ra một lúc rồi đặt hộp điểm tâm xuống đất, nói: “Tiêu cô nương! Tôi mang cho cô vài món ăn nhẹ, cô ăn đi, đừng để đói quá hại người.”

“Đồ vô liêm sỉ!” Ngọc Linh nhìn gã giận dữ “Ta không cần ngươi thương hại.”

“Tôi thế nào mà vô liêm sỉ?” Văn Tĩnh kêu lên oan ức.

Ngọc Linh thét: “Còn xảo biện? Đêm qua ngươi kè kè bên con bé đó, không vô liêm sỉ thì là gì?”

Văn Tĩnh ngây người, mãi mới nhớ ra: “Ý cô nói Nguyệt Thiền cô nương phải không?”

“Nguyệt Thiền cô nương? Gọi thân mật quá nhỉ!”

“Nguyệt Thiền cô… à không, cô ta… cô ta chỉ hát cho tôi nghe thôi mà, có… có… quan hệ gì với tôi… vô… vô liêm sỉ đâu?” Văn Tĩnh cuống quýt nói líu cả lưỡi, nước mắt chực tuôn rơi.

Ngọc Linh nhìn gã hồi lâu: “Đúng không đấy? Thực ngươi không ngủ với ả chứ?”

“Ngủ?” Văn Tĩnh trố mắt: “Tôi… đâu có?”

Ngọc Linh nhoẻn cười, nhưng lại ngưng ngay, nghiêm mặt nói: “Đàn ông các ngươi cùng một hạng tồi tệ, cũng như đám vương công Mông Cổ kia, toàn những kẻ vô liêm sỉ, chỉ giỏi ức hiếp phụ nữ, ép buộc đàn bà con gái ngủ với mình!” Sau những lời ấy, chừng như xúc động can tràng, mắt nàng đỏ lên, rầu rầu nói: “Mẹ bị thằng khốn nạn đó cưỡng bức, đẻ ra thứ nghiệt chủng là ta. Về sau thằng khốn nạn có nhiều thú vui mới, tìm đủ mọi cách rũ bỏ người. Mẹ treo cổ tự tận, để lại một mình ta, nếu không có sư phụ, thì ta…” Nói tới đây, nàng bật khóc.

Văn Tĩnh nghe khóc đâm luống cuống, vụng về giơ tay áo đến trước mặt Ngọc Linh toan giúp nàng lau nước mắt, nhưng bị gạt phắt đi. Nhìn nàng nức nở bi thương, gã thấy buồn không chịu nổi, bèn lắp bắp nói: “Tiêu… Tiêu cô nương, tôi xin thề với trời, nếu tôi ngủ… ngủ với đàn bà con gái, thì sẽ bị loạn tiễn xuyên tâm, mất mạng dưới thành Hợp Châu này.” Nhớ lại những cảnh tượng rùng rợn chết chóc hồi ban ngày, gã bèn lấy ngay ra thề độc như vậy.

Ngọc Linh đỏ mặt: “Ngươi… ngươi ngủ với ta thì có sao?”

Văn Tĩnh mù tịt chuyện nam nữ, nghe hỏi vậy trố mắt: “Ừ nhỉ, với cô thì có vấn đề gì đâu?”

Ngọc Linh là người Mông Cổ, không bị lễ giáo câu thúc, lại sinh trưởng trong nhà vương hầu, cũng hiểu biết đôi chút về những chuyện tương tự, chỉ là chưa thực sự rành rõ lắm mà thôi. Nghe Văn Tĩnh ngớ ngẩn hỏi lại như vậy, không kìm được, cô phì cười.

Văn Tĩnh hiểu lầm, đỏ mặt tía tai “Cô… cô cười… cười cái gì. Tôi… tôi nói thật đó, cô… không tin sao?”

Ngọc Linh gắng nhịn cười, dịu dàng nói: “Ta tin chứ. Ngươi lại đây.”

Văn Tĩnh ngẩn mặt, tiến tới.

“Xắn áo lên, chìa tay ra.”

Văn Tĩnh y lời.

Ngọc Linh bỗng cắn một cái. Văn Tĩnh đau quá suýt thét lên, nhưng sợ đánh động bọn thị vệ ngoài cửa, gã cố nén, nghiến răng nghiến lợi hỏi: “Cô… cô làm gì vậy?”

Ngọc Linh nhả ra, khuôn mặt thoáng nét cười: “Lừa ngựa Mông Cổ đều mang dấu nung của chủ trên mình, ta cũng đóng cho ngươi một cái. Từ nay về sau, ngươi là của ta, không ai đánh cắp được nữa.”

Nhìn hai hàng dấu răng hình bán nguyệt in trên bắp tay, Văn Tĩnh dở khóc dở cười. Ngọc Linh ngả đầu vào ngực gã. Hương thơm từ thân thể người thiếu nữ len vào mũi Văn Tĩnh, gã thấy máu nóng bừng bừng, trống ngực đập thình thịch, nhưng không dám động đậy, cứ đứng cứng đờ như một tảng đá. Ngọc Linh êm ái hỏi: “Mình có biết vì sao em tới đây không?”

Văn Tĩnh khó khăn lắm mới giữ được nhịp thở: “Đến giết người chứ gì?”

“Ngốc quá!” Ngọc Linh lườm gã, dịu dàng nói: “Thực ra em, em nhớ mình.” Con người nàng mang tình cảm phóng khoáng của đại mạc, dám yêu dám hận, nghĩ sao nói vậy. Văn Tĩnh nghe mà sững sờ.

“Lúc mình ở bên thì không cảm thấy.” Ngọc Linh thủ thỉ “Mình đi rồi, chẳng hiểu sao, em chỉ những nghĩ đến mình. Em… em nhớ mình, trốn sư huynh, chạy khắp nơi tìm mình… Ừ, trời cũng thương tình, em tìm mất hai ngày, cuối cùng đã tìm thấy!” Nói tới đây, nụ cười nở bừng trên khuôn mặt trắng trẻo của nàng, tuôn vào mắt Văn Tĩnh như sóng gợn, tỏa rộng ra trong trái tim gã. Văn Tĩnh bỗng chốc thần người.

Im lặng hồi lâu, gã lóng ngóng bảo: “Ăn… ăn tí điểm tâm đi!”

Ngọc Linh nhìn gã tủm tỉm: “Em bị trói này, ăn thế nào được?”

Văn Tĩnh nghệt mặt.

Ngọc Linh không nhịn được cười “Ngốc thế, không biết đường bón cho em ư?”

“A… được… à!” Văn Tĩnh tay chân luống cuống, làm thức ăn vãi tung tóe ra sàn, tức thì mặt nhăn như bị: “Đáng chết, tôi thật đáng chết!”

“Đừng lo, mình nhặt lên cho em đi.” Ngọc Linh nói. Văn Tĩnh lắc đầu: “Bẩn lắm, ăn sao được?”

Ngọc Linh mỉm cười, mắt lấp lánh: “Chỉ cần là do mình nhặt, bất kể bẩn thế nào, em cũng ăn.”

Văn Tĩnh sững người, nhặt thức ăn lên, phủi bụi đất bám bên trên, nhẹ nhàng đưa tới miệng Ngọc Linh.

Ngọc Linh ngoạm lấy, suýt chút nữa là cắn cả vào đầu ngón tay Văn Tĩnh. Nàng tỏ ra rất vui “Ngon thật, cả ngày trời không ăn, đói chết mất.”

Văn Tĩnh xoa xoa đầu ngón tay, nhăn nhó, nhặt từng miếng bánh dẻo phủi thật sạch, đưa vào miệng Ngọc Linh. Hai người bên nhau chẳng nói chẳng rằng, một người bón, một người ăn. Trong thạch thất nhỏ lạnh và ẩm ướt, ý xuân bỗng đượm nồng nàn.

“Ngốc này!” Ngọc Linh nói: “Miệng mình để ruồi bâu à? Kể chuyện cho em nghe đi!”

Văn Tĩnh đang nghĩ cách cứu nàng, không tìm ra kế gì, nay nghe nàng nói vậy, đành gật đầu, xoay sang kể chuyện. Hôm nay tâm trạng gã thơ thới khác thường, kể chuyện cũng có duyên lạ, Ngọc Linh khúc khích cười mãi. Cứ thế, đôi người chìm đắm vào đó, quên hết mọi sự xung quanh.

Chẳng biết mất bao lâu, lúc Văn Tĩnh bước ra khỏi thạch thất, trúc đã ngả bóng, trăng sáng trên cao.

Gã đi được mười mấy bước thì đụng phải Bạch Phác vừa từ chỗ tối nhô ra, vẻ mặt cổ quái: “Thiên tuế.”

“A! Bạch tiên sinh.” Văn Tĩnh có tật giật mình, vội hỏi: “Chuyện gì thế?”

“Đêm qua thiên tuế hiển lộ võ công, lợi hại lắm.” Bạch Phác phe phẩy quạt. “Chẳng hay người học ở đâu?”

Văn Tĩnh cũng không định giấu: “Thầy ông dạy tôi.”

Bạch Phác biến sắc: “Quả nhiên không nhìn lầm, phải chăng là Tam tài Quy nguyên chưởng?”

Văn Tĩnh gật đầu. Bạch Phác đi mấy bước, ngửa mặt than: “Môn võ công đó ta luyện mất một tháng, trước sau vẫn không sao nhập môn được, nhất là tâm pháp, thực huyền ảo. Thầy nói ta không đủ cơ duyên, không luyện được công phu ấy, chẳng ngờ người lại truyền cho em.”

Văn Tĩnh chỉ những muốn đi, bèn nói: “Nếu không còn việc gì khác, tôi đi nhé.”

Bạch Phác chực nói lại thôi, hồi lâu mới bảo: “Hôm ấy em mất tích, Lương tiên sinh lo lắng không yên. Em đừng để ông ấy phải thấp thỏm.”

Văn Tĩnh đỏ mặt: “Tôi sẽ không thế nữa.” Rồi quay đi. Bạch Phác nói với theo: “Nắm được con nhóc đó, đối phó với Tiêu Lãnh sẽ dễ dàng hơn nhiều. Mong thiên tuế chớ làm hỏng đại sự.”

Văn Tĩnh lạnh toát người: “Lão ta biết rồi hay sao?”

Bạch Phác nói: “Nhưng con bé đó không chịu ăn thứ do người khác đưa tới, e rằng thiên tuế phải chăm lo cho nó ít nhiều.”

Văn Tĩnh thẹn quá hóa giận: “Ông nhìn trộm à?”

Bạch Phác cười khẩy: “Nếu thuộc hạ không đuổi bọn vệ binh đi, thiên tuế há được tự do như thế? Thuộc hạ chỉ muốn nhắc nhở thiên tuế, hãy nhớ địa vị của mình, đừng lún sâu quá độ.” Nói đoạn phất tay áo rộng, thong thả bước đi.

Vì mấy câu nói của Bạch Phác, Văn Tĩnh trằn trọc cả đêm. Hôm sau gã lại gắng gượng đến nhà lao đưa cơm nước. Nguyệt Thiền cũng nhanh nhẹn, đã chuẩn bị xong suất cơm từ sớm rồi.

Ngọc Linh gặp Văn Tĩnh, tất nhiên mừng rỡ vô cùng, cứ quấn lấy gã nói đủ chuyện trên trời dưới bể.

Văn Tĩnh cố làm bộ vui tươi, nhưng trong dạ phập phồng lo âu, chẳng biết thành trì có giữ nổi không, cũng chẳng biết làm thế nào để cứu được Ngọc Linh ra, cảm thấy con đường trước mặt thật mờ mịt, gã phấp phỏng vô cùng, kể chuyện một lúc bỗng thở dài.

“Chàng ngốc! Mình không vui à?” Mắt lấp lánh, Ngọc Linh hỏi với vẻ quan tâm.

Văn Tĩnh không giấu được, bèn thổ lộ gan ruột.

Ngọc Linh nín lặng hồi lâu, vùi đầu vào ngực gã, dịu dàng nói: “Đừng cả nghĩ! Dù Mông Cổ hay người Tống thắng, em cũng cam lòng ở lại đây, không đi đâu hết. Chỉ cần… chỉ cần ngày ngày được gặp mình, thì dẫu mai kia có bị loạn đao phanh thây, em cũng không sợ…”

Văn Tĩnh bịt miệng nàng: “Đừng… đừng nói thế! Em chết thì tôi cũng không sống được nữa! Anh còn sống, nhất định không để em chết…” Nói đến câu cuối, giọng gã chắc như đinh đóng cột, lòng hạ quyết tâm, thề chết cũng phải lo cho Ngọc Linh chu toàn.

Ngọc Linh nhìn gã hồi lâu, bỗng nhoẻn cười, nói khẽ: “Đúng là ngốc!”

Từ xa vọng tới âm thanh ầm ầm như núi lở.

Ngọc Linh thắc mắc hỏi: “Gì thế?”

Văn Tĩnh chăm chú lắng nghe: “Quân Mông Cổ đang công thành đấy!”

Ngọc Linh rùng mình, nép sát vào người Văn Tĩnh. Gã thiếu niên vòng tay ôm lấy nàng, họ cùng im lặng.


oOo


Liên tiếp mấy ngày, A Thuật đều tới trước thành khiêu chiến, nhưng quân Tống không dám khinh suất ra đánh. Lương Thiên Đức vừa lập được đại công, Vương Lập rất lấy làm trọng, lệnh cho lão tạm thời thay thế chức vụ của Hướng Tông Đạo, điều khiển gần một vạn quân mã. Mọi người đều có việc của mình, Văn Tĩnh không bị ai để ý, tự nhiên bạo dạn lên rất nhiều, thêm vào đó không phải lo chiến trận, gã bèn tự tạo lấy niềm vui. Ngoài những lúc quanh quẩn bên Ngọc Linh, gã chú tâm rèn giũa chỗ ảo diệu của Tam tài Quy nguyên chưởng. Vốn dĩ bập bõm những nguyên tắc luyện võ, gã cũng không lấy thế làm chán ghét, thắc mắc chỗ nào, lại bàn luận với Ngọc Linh.

Ngọc Linh tuy không nắm được chỗ huyền ảo của Cửu cung đồ, nhưng nhờ thụ giáo ở một đại cao thủ thuộc dạng hiếm hoi trong thiên hạ, con nhà tông không giống lông cũng giống cánh, võ nghệ nàng chưa hẳn lợi hại, song kiến thức võ học thì rất rộng, nghe Văn Tĩnh mô tả những chỗ khó, nàng nhận ra ngay yếu lĩnh, lại thấy Văn Tĩnh tin tưởng m

Tài sản:


[Xem tất cả tài sản]
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
quynhmi
bài viết 29 Aug 09 01:52
    Gửi vào: #7
Ông Trùm Thành viên thứ: 242878 Tiền mặt: 98917050
Group Icon Tham gia: 1-March 09 Được cám ơn: 83
Nhóm: Members Bài viết: 1113 No Yahoo Messenger
Chương 6 – Xạ Thiên lang


Văn Tĩnh theo Bạch Phác lên lầu thành, trông ra thấy tinh kỳ Mông Cổ rờm rợp khắp núi đồi, che kín cả chân trời, binh sĩ nhiều gấp đôi gấp ba hôm nọ, dàn hàng dày đặc, đứng im phăng phắc. Dưới sông, chiến thuyền và mẫu hạm rùng rùng theo dòng xuôi xuống, đối mặt với thủy quân nhà Tống.

Trên đầu thành, người ta đun hơn một trăm vạc to dầu hỏa, làm bốc ra mùi hôi thối rất khó thở. Lăn gỗ và đá tảng chất đống như núi, mấy chục vạn dân Hợp Châu đều được huy động, đàn ông trai tráng đổ hết lên mặt thành phòng thủ, phụ nữ, bô lão và trẻ em đẩy xe dắt trâu, vận chuyển đá bắn.

Đôi nhịp hồ già bay lên phiêu phưởng, trống vàng rền vang như sấm động, lính Mông Cổ rống to như sét nổ ngày xanh, sông núi cùng rung chuyển. Mấy trăm chiếc thuyền nhẹ bén lửa rần rật chở đầy củi khô dầu hỏa trôi xuống hạ lưu, lao vào thủy sư Đại Tống, đâm phải thuyền lớn, lập tức bắt cháy bùng bùng. Lữ Đức chỉ huy quân sĩ vừa dập lửa vừa di chuyển đội hình.

Sử Thiên Trạch đứng ở mũi thuyền, ngẩng mặt nhìn thủy trại của quân Tống, thấy rất phân tán, bèn khua đại kỳ. Lưu Chỉnh truyền lệnh cho binh sĩ mượn chiều nước lao thẳng xuống hạ lưu, muốn tiên hạ thủ vi cường, đâm vỡ đội hình đối phương. Lữ Đức cũng phát lệnh, quân Tống bắn tên sang rào rào như châu chấu bay, hỏa pháo nổ rền, sĩ tốt Mông Cổ rên la thảm thiết, hàng loạt người trúng tiễn ngã nhào khỏi thuyền, mấy cỗ chiến hạm bị thiết sa hỏa pháo ném bắn cho vỡ vụn, xoay ngang xoay ngửa giữa dòng, rồi từ từ chìm xuống.

Đại quân Mông Cổ trên bờ sông cũng bắn nỏ bắn đá, cho thủy sư Tống nếm mùi lợi hại. Tên qua đá lại, tiếng động ầm ầm điếc cả tai. Sau thời gian chừng tàn nửa cây hương, thuyền chiến của hai bên đâm sầm vào nhau, binh sĩ ngả nghiêng loạng choạng, những người còn đứng vững lập tức vung cung tên trường thương, chém giết tơi bời giữa đại giang, máu tươi chảy loang, nhuộm đỏ mặt nước.

Trên bờ, tiếng trống trận càng thêm dữ dội, đại quân Mông Cổ dậm chân thình thịch, rục rịch tiến. Ở đầu hàng, từng tốp hai mươi người nâng một cái khiên mặt bọc da trâu và lông chiên cao chừng năm trượng, dày chừng nửa thước, rầm rập tiến về phía thành trì. Theo sau là nỏ to và đại pháo gỗ.

Tên nỏ được tẩm dầu hỏa. Hỏa tiễn đốt ngòi dẫn, rít gió lao xuống thành, đâm vào đám khiên khiến chúng bén cháy xèo xèo. Những khúc gỗ to bọc lửa đổ ào ào xuống mặt khiên, đốt trụi cả da trâu và lông chiên, mặt khiên xạm đen dần trong ngọn lửa rần rật. Quân Mông Cổ rú lên thảm thiết. Cùng với tiếng bật lẫy tanh tách, máy bắn nhả đá tới đầu thành, những mũi tên đá nặng cỡ hai mươi cân1 tới tấp dội vào tường, phát ra tiếng động ầm ĩ, làm đất rung núi chuyển.

Lâm Mộng Thạch ra hiệu lệnh. Phá sơn nỗ được kéo lên, cỗ nỏ này có thể đẩy những mũi tên đá nặng bốn mươi cân bay xa một nghìn bộ, phải hai mươi người mới điều khiển được. Sau một tiếng trầm đục, hai mươi mũi tên lớn xé gió lao đi. Bụi bốc mịt mù. Rên la đau đớn. Những tấm khiên khổng lồ lần lượt vỡ vụn. Phá sơn nỗ bật lẫy liên tiếp năm lần, chiến binh Mông Cổ ngã rạp dưới mũi nỏ của quân Tống, hỏa tiễn tỏa đi vun vút sáng giữa không trung, mỗi lượt lửa lấp lóe, lại có người lăn lộn gào rú dưới chân thành, mùi thịt da cháy khét dần dần đùn lên trong không khí.

Lính Mông Cổ cũng ráo riết bắn nỏ, phản kích một cách vô vọng lên đầu thành cao vời vợi. Hậu quân bắt đầu dùng đến thang mây, hàng trước đổ hàng sau tiếp bước, ào ạt xung phong, họ tựa thang mây vào tường thành, lũ lượt leo lên. Đá tảng và lăn gỗ của quân Tống ồ ồ đổ xuống, trét máu thịt đối phương lại trên tường thành. Hơn một trăm cái vạc đại được treo vào xích sắt, dốc nghiêng, dầu hỏa bỏng rãy trút xuống người các chiến binh Mông Cổ, cháy qua lớp giáp sắt, cháy thấu da thủng xương, đun sôi nội tạng họ. Chẳng biết bao nhiêu binh sĩ đã ngã nhào khỏi thang trong những tiếng kêu thét rợn người.

Lại một trăm lính Mông Cổ khác đẩy cỗ xe húc khổng lồ đến dưới chân thành, lập tức hứng trọn một vạc đá trộn dầu hỏa từ trên cao trút xuống. Xe húc mất điều khiển, đổ nhào, súc gỗ nặng hàng vạn cân ấy bị tưới dầu hỏa, lập tức bén cháy bởi đám hỏa tiễn vương vãi dưới đất, rồi kềnh càng lăn xuống sườn núi, để lại từng đám máu thịt dẹp lép sau lưng.

Quân đội Mông Cổ không kham nổi đành rút lui. Đúng lúc ấy, tiếng trống bịt da cá sấu trỗi lên dồn dập, đoàn quân đang từ từ lùi xuống bỗng lại ào thốc lên như nổi cơn điên.

Văn Tĩnh đứng xem, mỗi lúc một suy sụp, miệng không ngớt than thở, mấy lần muốn nôn ọe, thấy quân Mông Cổ rút lui, toan thở phào, nào ngờ sau một hồi trống, đối phương lại tiếp tục xung phong. Gã run rẩy thốt: “Chuyện gì vậy?”

Vương Lập trỏ tay ra xa, mắt tóe lửa “Hoàng đế Thát đến!”

Văn Tĩnh phóng mắt nhìn, trông thấy một lá cờ tiết mao cực lớn căng phồng trước gió.


oOo


Mông Ca đang ngự trên con ngựa tên gọi “Trục Nhật2” - thuộc dòng thần câu vùng Tây Vực, quan sát cuộc chém giết dưới thành, cơ mặt giật nhẹ, lặng lẽ không thốt một lời.

“Đại hãn!” Ngột Lương Hợp Thai dè dặt nói: “Cứ hùng hục tấn công thế này chẳng phải là biện pháp hay, quân ta yếu về thủy chiến, không giành được ưu thế trên sông nước. Thành Hợp Châu lại chiếm được địa lợi, dễ thủ khó công…”

Đét một tiếng. Bị roi ngựa của Mông Ca quất mạnh lên lưng, Ngột Lương Hợp Thai ngạt thở.

“Ta mười sáu tuổi theo Bạt Đô Hãn tây chinh, tung hoành thiên hạ, đánh đâu được đó. Một thành Hợp Châu nhỏ nhoi liệu cản được ta chăng?” Khuôn mặt cương nghị của Mông Ca Hãn nóng bừng, hệt như mặt trời rực rỡ, khiến người ta không dám ngước nhìn: “Tốc Bất Đài tổ phụ ngươi kiêu dũng biết chừng nào! Ngươi là cháu đích tôn mà nói ra những lời nhụt chí thế à?”

Ngột Lương Hợp Thai hổ thẹn xuống ngựa vái lạy, nói thật lớn: “Hạ thần xin dẫn quân tấn công cửa đông.”

Mông Ca không đáp, phóng mắt ra xa hỏi: “Người mặc áo bào xanh lam kia là Bá Nhan phải không?”

Ngột Lương Hợp Thai ngoái đầu nhìn, thấy Bá Nhan đang xách ngựa phi như bay, mỗi lần giương cung, lại bắn ngã một người trên đầu thành.

“Dạ vâng.” Ông ta đáp.

Mông Ca cười: “Nghe nói y có công lớn trong trận phá Kiếm Môn. Hôm nay trông thấy, quả nhiên kiêu dũng. Ta muốn gặp y.”

Lệnh truyền đi. Bá Nhan phi ngựa trở về, nhảy xuống vái lạy.

Mông Ca trầm giọng bảo: “Ngẩng đầu lên!”

Bá Nhan ngẩng đầu. Hai mắt Mông Ca sáng quắc, soi lên mặt y.

Bá Nhan không đổi sắc diện, điềm nhiên nhìn thẳng lại. Hai người đối mắt rất lâu, Mông Ca Hãn chợt mỉm cười hỏi: “Ngươi không sợ ta ư?”

Bá Nhan điềm tĩnh đáp: “Hạ thần vấn lòng không thẹn, có gì phải sợ?”

“Hay cho câu vấn lòng không thẹn!” Mông Ca Hãn chìa tay ra: “Đứng dậy, Thần Tiễn tướng quân!”

Bá Nhan ngạc nhiên. Ngột Lương Hợp Thai nhắc: “Đại hãn phong tặng cho ngươi đó!”

Bá Nhan sực hiểu, Mông Ca ban cho y danh hiệu Thần Tiễn, hàm ý “Mông Cổ đệ nhất thần tiễn thủ”, chính là danh hiệu Triết Biệt đã từng mang ngày xưa. Nên biết Mông Cổ bình thiên hạ cũng nhờ tài kỵ xạ, danh hiệu đó quả thực không phải tầm thường.

Bá Nhan đứng lên đáp tạ. Mông Ca bảo: “Ngươi từ nam xuống đây, công phá biết bao thành lũy, nhất định có điều đúc rút. Theo ngươi, làm thế nào để hạ được Hợp Châu?”

Bá Nhan thoáng vẻ đắn đo: “Theo thiển kiến của vi thần, tốt nhất là không tấn công.”

“Không tấn công?” Mông Ca chưng hửng, nhưng lập tức lấy lại hứng thú: “Nói nghe thử.”

Bá Nhan thẳng thắn trình bày: “Đại hãn cũng thấy rồi đó, thành Hợp Châu hiểm yếu không thua gì Kiếm Môn, nhưng quy mô rộng lớn, binh mã đông đúc, phần lớn tướng giỏi lính tài của nhà Tống đều tập hợp ở đây. Nếu tấn công dồn dập, e rằng không hạ ngay được.”

“Ồ!” Mông Ca sầm mặt.

Bá Nhan liếc ông ta, tiếp tục nói: “Hiện đã phá được Kiếm Môn, hơn một nửa Lư Châu thuộc về chúng ta rồi. Hạ thần cho rằng nên lấy Lư Châu làm cơ sở, từng bước lập dinh lũy, phòng thủ cẩn mật mọi chỗ hiểm yếu, cắt đứt tuyến cứu viện đường bộ của Hợp Châu. Kế đó phái tinh binh sang phía tây phá Thành Đô, quét sạch đất Thục, gom lương thảo nuôi đại quân. Lại dựng trại trên sông, thao luyện thủy chiến, kết hợp hai đường thủy bộ, cắt đứt cứu viện đường thủy của quân Tống. Cứ thế, Hợp Châu cạn lương thảo, không đón được viện binh bên ngoài, lúc ấy chúng ta không đánh cũng lấy được.”

Mông Ca lắc đầu: “Kế sách đó tuy vẹn toàn nhưng mất nhiều thời gian quá, không hợp với binh pháp tốc chiến tốc quyết của Mông Cổ ta. Nhớ thuở xưa hai lần tây chinh, tung hoành cả vạn dặm, trước sau chỉ mất có mấy năm. Nếu làm theo cách của ngươi, chẳng lẽ mười năm sau mới phá được Tống triều hay sao?”

Bá Nhan toan nói “Tống triều có chỗ khác với Tây Vực.” nhưng thấy Ngột Lương Hợp Thai khẽ lắc đầu với mình, liền kìm lại.

Mông Ca ngẩng đầu chăm chú quan sát trận chiến khốc liệt dưới thành, trầm ngâm một lúc lâu rồi bảo: “Bất kể thế nào, bọn Tống kia đã sát hại vô số hảo hán của chúng ta, đợi đến khi vào được thành, ta sẽ triệt hạ tất cả, gà chó cũng không tha.” Ông ta nói bằng giọng chậm rãi, trầm hùng dị thường, nghe như tiếng sấm rền nơi chân trời. Bá Nhan và Ngột Lương Hợp Thai nhìn nhau, run rẩy, hiểu câu nói đó cũng chính là hiệu lệnh phá thành.

Mông Ca ngừng một lúc rồi quát: “Ngột Lương Hợp Thai! Ta cho ngươi ba đội, mỗi đội một vạn quân để tấn công cửa đông.”

Ngột Lương Hợp Thai trù trừ: “Lúc này điều đâu ra ba đội, mỗi đội một vạn quân?”

Mông Ca nói “Ta cho ngươi một vạn quân Khiếp Tiết.”

Khiết Tiết là đội thân binh của Đại hãn Mông Cổ. Nghe ông ta nói vậy, mọi người đều sửng sốt. Ngột Lương Hợp Thai vội can: “Sao có thể thế được?”

“Sao không?” Mông Ca nhìn Bá Nhan: “Có Thần Tiễn tướng quân ở đây, ai hại nổi ta?”

Bá Nhan nghe nói, bất giác trái tim sôi sục, nhiệt huyết dâng trào, liền quỳ mọp xuống đất, thề chết trung thành.

“Dóng ba hồi trống!” Mắt Mông Ca sáng quắc: “Thổi tù và!”

Cây dùi bằng xương đùi ngựa giáng xuống mặt trống da trâu, tiếng trống vang vọng đất trời, ba hồi dõng dạc. Chiếc tù và sừng dê khổng lồ rúc lên không trung, chí khí bi tráng dâng tràn vũ trụ. A Thuật ngừng khua lệnh kỳ, dõi mắt nhìn bụi đất mờ mịt phía xa, “Cha định đánh cửa đông chăng?” Gã thầm nghĩ. Ngột Lương Hợp Thai là thống soái, đồng thời cũng là phụ thân gã, có thể nói là cha – con – đồng – đội.

Ngoảnh nhìn cây cờ tiết lông trắng to tướng của Mông Ca Hãn, A Thuật nhíu mày, đôi mắt sáng thoáng tư lự: “Phía cửa đông thế núi nhấp nhô, khó triển khai binh mã, cho vài ngàn người chặn giữ, đợi sơ hở tập kích còn có thể xuất kỳ chế thắng. Nhưng ồ ạt tấn công thì thực không đơn giản. Chẳng lẽ… Đại hãn muốn mạo hiểm sao?”

Trong lúc gã mải suy nghĩ, nơi cửa đông đã bắt đầu chiến đấu. Nỏ lớn kê sườn núi, tên đá bay rợp trời, binh sĩ Mông Cổ vung đao thương, dựng thang mây, chuẩn bị công thành. Trước cửa đông có một khe núi dài hẹp cực kỳ gập ghềnh, được tạo nên bởi tường thành và một gờ nhỏ gần đó. Quân Tống bắn tên xối xả, Mông Cổ bắt đầu có dấu hiệu rối loạn. Khiếp Tiết quân vốn dĩ đều là con cháu nhà quý tộc, tuy lanh lợi khỏe mạnh nhưng ngày thường chỉ theo hầu Mông Ca, ít kinh nghiệm chinh chiến, chưa biết đánh phá thành trì là gì, gặp mấy lượt công kích dữ dội, đã có người luống cuống chân tay. Chỉ thoáng chốc, hai vạn quân rối tung, chen chúc trong cái khe hẹp, trước hò sau đẩy, tiến thoái đều khó khăn, có người còn bị ép bẹp dí vào tường thành suýt chết. Ngột Lương Hợp Thai thấy vậy, thúc ngựa tiến lên, quát tháo hô gọi chỉnh đốn đội hình. Quân Tống nhận ra sự lúng túng của đối phương, càng dội tên tới tấp. Lính Mông Cổ thương vong nặng nề.

Lý Hán Sinh dẫn quân lao ra khỏi cửa đông, thừa lúc đối phương bấn loạn phóng tay chém giết. Lương Thiên Đức thúc ngựa đi đầu, đâm chết mấy người, trông ra xa thấy có người mặc giáp bạc óng ánh (chính là Ngột Lương Hợp Thai), biết giáp bạc là dấu hiệu của đại tướng Mông Cổ, bèn quẳng trường thương đi, vỗ ngựa lao tới, giương cánh nỏ lớn lót sắt nặng ba trăm thạch, bắn liên tiếp chín phát, chiêu này gọi là Long sinh cửu tử3, sở trường của Lương Thiên Đức.

Trông thấy một chuỗi chín mũi tên hệt như con rắn dài phóng về phía mình, Ngột Lương Hợp Thai vốn quen chiến trận, lập tức giục ngựa tránh, nào ngờ mỗi mũi tên một kình đạo mạnh yếu, được nửa đường thì húc vào nhau, lập tức bắn tỏa ra bốn phía như tiên nữ rắc hoa, chặn cứng mọi hướng tránh của Ngột Lương Hợp Thai. Vị đại tướng Mông Cổ trúng liền ba mũi, bị một trong số đó xuyên thủng mắt phải, ông ta ngã nhào khỏi ngựa…


oOo


Trời ngả hoàng hôn, vầng dương tàn úa phả ráng tà nhợt nhạt và từ từ chìm xuống. Gió mạnh rú gào giận dữ trong mây tím, người hét ngựa hí giữa núi đồi trập trùng. Mấy chục vạn quân bất chấp sống chết lăn xả vào nhau dưới chân tòa thành trơ trơ, tường thành xám vàng nhuộm máu Mông Cổ, chuyển sắc đỏ gắt ghê người.

Mông Ca Hãn đứng bất động như một pho tượng, nhìn về nơi xa. Một con ngựa phi ào tới, kỵ sĩ không dám quấy rầy chủ nhân, dừng ngựa lại quỳ xuống đất.

Một lúc lâu sau, Mông Ca chậm rãi hỏi: “Có chuyện gì ư?”

“Bệ hạ, khí giới công thành đã cạn…”

“Còn gì nữa?”

“… Ngột Lương Hợp Thai… Ngột Lương Hợp Thai tướng quân… tử trận rồi.”

Mông Ca rúng động, ngửa mặt nhìn khoảng trời nhập nhoạng, nhắm mắt, từ từ thở hắt ra bằng một giọng khê đặc: “Tạm… thời… thu… binh!”


oOo


Trận đầu ra quân không tổn thất, đem lại rất nhiều sinh khí cho thành Hợp Châu vốn bị phủ chụp dưới đám mây lo âu. Lý Hán Sinh đứng ra mở tiệc, tướng lĩnh hân hoan yến ẩm trong phủ Thái thú, vui vẻ chúc tụng nhau. Văn Tĩnh ngồi một mình trên bậc cấp, ngơ ngẩn thất thần, chằm chằm nhìn chung rượu trên tay. Hễ nhắm mắt lại là trông thấy máu tươi ngập ngụa, dường như còn trông thấy đôi tay ấy, đôi tay bíu chặt vào lỗ châu mai, bỗng đâu một lưỡi đao sắc bén chặt xuống, máu bắn tung tóe, người ấy rống lên thảm thiết, càng rơi càng xa, cuối cùng chìm lỉm giữa những tiếng hò la dập dồn như sóng, không còn nghe thấy đâu nữa.

“Vì sao?” Đầu óc gã trống rỗng: “Vì sao bọn Mông Cổ ấy ngu thế? Vì sao chẳng ai tiếc thương sinh mệnh của chính mình? Vì sao phải đổ bao nhiêu máu như vậy? Lẽ nào người và người không thể sống chung hòa thuận, nhất định phải tàn sát nhau mới được ư?”

Lật đi lật lại vấn đề nan giải khiến bao đại triết gia từ xưa tới nay vẫn phải đau đầu buốt óc ấy, trước sau Văn Tĩnh vẫn không sao cắt nghĩa nổi. Tiếng huyên náo dưới vườn làm gã mở bừng mắt, mấy viên tướng uống say đang giằng kéo một vũ cơ lại ôm, Vương Lập vuốt râu tủm tỉm, những người khác cũng cười theo ầm ĩ.

“Ta mệt, về trước đây.” Văn Tĩnh đứng dậy, khoác tấm áo choàng gấm Thục lên vai, bước ra giữa những ánh mắt ngạc nhiên của đám tướng lĩnh.

Đi qua con đường dài yên tĩnh, nghe văng vẳng tiếng bước chân tuần tiễu của đội vệ binh ở xa, Văn Tĩnh ngồi trong kiệu, cảm thấy nặng đầu, mệt mỏi, cái mệt thấm từ xương tủy ra.

Chợt nghe thấy một giọng lạnh băng như từ a tỳ địa ngục đưa lên: “Sư muội ta đâu?” Văn Tĩnh tỉnh người, toàn thân lạnh buốt.

Gã vén tấm rèm pha lê, nhìn ra ở đầu đằng kia con đường, một bóng người lờ mờ hiện rõ dần, thi thể lính gác nằm ngổn ngang đầy mặt đất, máu đã lạnh đông nơi vết thương trên cổ.

Bạch Phác nhảy xuống ngựa, sắc mặt tối sầm đáng sợ, chậm rãi thốt: “Cái thằng loạn trí này!”

“Sư muội ta đâu?” Giọng Tiêu Lãnh nghe nhiếp hồn như phù chú.

“Ngươi muốn gặp ả ư?” Bạch Phác cười khẩy: “Vậy bó tay chịu trói, ta mang đầu ngươi đi gặp ả.”

Mắt lóe lên những tia sắc nhọn, Tiêu Lãnh gằn từng chữ: “Một ngày không gặp nàng, ta giết một trăm người. Mười ngày không gặp nàng, ta giết một ngàn người. Nếu nàng có hề hấn gì, ta sẽ tận diệt cả thành Hợp Châu này.”

Trước sát khí yêu dị của y, đám lính gác mất sạch dũng khí, chẳng ai dám hé răng. Hải Nhược đao lướt tới, nước thép xanh lam ngưng tụ trong đêm, xóa mờ ánh trăng ảm đạm.

Keng một tiếng. Bạch Phác xòe quạt nghênh đón đao phong, hai người giao thủ, chỉ thoáng chốc chiết liền sáu chiêu, bụi sắt rơi lả tả. Trong sáu chiêu ấy, cây thiết phiến thép luyện bị Hải Nhược đao chẻ tơi bời, Bạch Phác đành vứt chiếc quạt nát, giơ tay không đối địch. Mặc dù dùng tay không, y cũng không mảy may ngại ngần đao pháp lăng lệ của Tiêu Lãnh, xuất chiêu lanh lẹ biến ảo, gồm công gồm thủ, thi thoảng lẩn vào màn đao quang tìm cách cướp lấy bảo đao của Tiêu Lãnh.

Hai người giao đấu mười mấy hiệp, không phân thắng phụ. Bọn thị vệ cũng lấy lại bình tĩnh, rút đao xông tới, song chưa đến gần đã có hai người gục ngã, những người khác sững sờ, quây thành một vòng không dám tiến lên. Bạch Phác thét: “Tên kia giỏi thực, ngươi còn rảnh rỗi lo việc khác ư?”

“Hừ!” Tiêu Lãnh phì mũi, “Cái giống giá áo túi cơm ấy thì càng nhiều càng tốt.” U Linh Ảo Hình thuật của y phù hợp nhất cho lối quần chiến, di chuyển chớp nhoáng, khiến đối thủ không kịp trở tay.

Văn Tĩnh nhíu mày, đang cân nhắc xem có nên đến trợ trận không, chợt nghe thấy tiếng móng ngựa, gã ngoái đầu nhìn, một tốp gồm Lương Thiên Đức, Nghiêm Cương, Đoan Mộc và Lưu Kình Thảo đang hớt hải lao tới, kế đó lại nghe tiếng huyên náo, một đội binh sĩ đông đảo từ đầu kia con đường cũng đang ùn ùn đổ về. Lưu Kình Thảo nhận ra Tiêu Lãnh, mắt đỏ hoe, không đợi ngựa đến nơi đã tung mình bật lên, Tùng Văn kiếm lộn một vòng, phóng thẳng tới. Tiêu Lãnh ngó thấy, biết hôm nay khó giải quyết êm xuôi, vội vàng đỡ mấy chiêu rồi đằng thân lên mái nhà. Lương Thiên Đức giương cung lắp tên, Long sinh cửu tử buông dây bay đi, Tiêu Lãnh đứng giữa lưng chừng không, múa tít Hải Nhược đao, tạo thành một bánh xe ánh xanh rờn rợn chặn liền tám mũi tên đang nhắm thẳng vào những chỗ yếu hại của mình, nhưng do hấp tấp, không phát huy được hết khả năng nên bị mũi tên thứ chín cắm vào bả vai.

Y đáp xuống mái lầu, hơi chao người. Bạch Phác cũng nhảy lên, hai bên chỉ trao đổi một chiêu, Tiêu Lãnh lại lắc mình bỏ chạy, Bạch Phác đuổi theo, thoáng cái mất dạng. Lưu Kình Thảo và Nghiêm Cương bay lên mái nhà, không thấy bóng hai người đâu nữa, nhìn quanh quất rồi hậm hực nhảy xuống.

Lương Thiên Đức thúc ngựa tới, ngoảnh nhìn Văn Tĩnh. Cha con chăm chú nhìn nhau một lúc, Văn Tĩnh cúi đầu. Mấy ngày nay nhiều việc đột ngột xảy ra, họ chẳng tìm được lúc nào ở riêng hai người. Thêm vào đó, Văn Tĩnh sợ bị cha chửi mắng vì vụ lẻn đi trốn hôm nọ, cũng cố ý tránh mặt lão. Lương Thiên Đức có bao điều muốn nói nhưng không cách nào nói được, lúc này mấp máy môi toan gọi hỏi, nhưng cân nhắc một hồi, cuối cùng nén lại.

Văn Tĩnh bị cha nhìn, sợ quá, cúi đầu ngắm những ngón chân tự nhủ: “Ánh mắt bố như giết người ấy, phải như ngày xưa, nhất định mình đã bị ông ấy quật cho một trận rồi.”

Một bóng trắng chớp trên mái nhà. Bạch Phác theo đường cũ nhảy xuống, nhăn nhó: “Thằng cha đó lẩn như chạch, vừa rồi Bạch mỗ đánh trúng hắn một chưởng, nhưng hắn vẫn trốn được.”

“Không sao!” Vương Lập nghe ồn ã chạy tới, lúc này đã nắm rõ tình hình bèn nói: “Để ta truyền quân lệnh, cho sục sạo toàn thành, lật tung cả Hợp Châu lên. Tin chắc không để sổng hắn!”

Bạch Phác lắc đầu: “Không ổn. Hiện nay chiến tranh đang lúc nước sôi lửa bỏng, chẳng biết ngày nào mới xong, khiến dân lao lực quá độ e rằng có hại.”

“Hà.” Vương Lập không bằng lòng, quay sang hỏi Văn Tĩnh: “Thiên tuế thấy thế nào?”

Văn Tĩnh đưa mắt sang Bạch Phác: “Bạch tiên sinh nói có lý đấy.”

Vương Lập chưng hửng, sượng sùng rút cổ về.

Bạch Phác khẽ gật đầu với Văn Tĩnh: “Không cần lục soát, tự ta có cách ép hắn ra.”


oOo


“A Thuật!” Bá Nhan trèo lên quả đồi đen kịt, khẽ gọi người thiếu niên đang đứng sững ở đó.

A Thuật run người, quay đầu lại, mặt còn hằn dấu lệ “Bá Nhan tướng quân.”

Mắt Bá Nhan rừng rực thần quang, y vỗ vai A Thuật bảo: “Đại trượng phu tung hoành trên chốn sa trường, chỉ mong trở về da ngựa bọc thây. Nếu em còn là một nam tử hán thì đừng khóc, có bản lĩnh hãy đánh xuống thành trì kia, rửa hờn cho vong linh cha em.”

“Vâng!” A Thuật quệt mạnh nước mắt.

“Chưa ăn cơm đúng không?”

Bá Nhan dỡ nửa con dê béo trên vai xuống, lấy hỏa thạch ra nhóm lửa, bắt đầu quay. Một lúc sau, mùi thịt thơm lịm dậy lên trong không khí.

Bá Nhan dùng ngọn tiểu đao bằng bạc xẻo một tảng thịt, quẳng cho A Thuật: “Thực ra, đánh trận và trị quốc cũng giống như quay dê, lửa mạnh quá sẽ làm cháy thịt, lửa yếu quá thì thịt không chín.”

“Ừm!” A Thuật cắn một miếng thịt đùi ngọt lừ, nhả hơi nóng, xua bớt sương mù lạnh tê, lẩm bẩm “Lửa phải vừa độ mới quay được thịt ngon.”

“Đúng!” Bá Nhan nhìn doanh trại Mông Cổ sáng rực đèn đuốc, buồn rầu nói: “Đại hãn tính khí cương cường, lửa của người cháy quá mạnh!” A Thuật ngừng nhai, nghi hoặc nhìn Bá Nhan.

“Cháy quá mạnh…” Bá Nhan cười buồn, ném bầu rượu nóng cho A Thuật: “Thịt dê đã cháy, củi cũng hết rồi!”


oOo


Mông Ca thúc đại quân dốc sức tấn công bất kể ngày đêm. Ông ta cho dựng đài cao dưới thành Hợp Châu làm giá kê nỏ bắn lên đầu thành. Hai bên huyết chiến suốt một ngày, quân Tống dùng Phá sơn nỗ oanh tạc liền ba canh giờ mới bắn sụp được đài cao. Mông Ca lại ra lệnh đào địa đạo từ cửa đông nhưng bị quân Tống phát giác, Lý Hán Sinh sai tháo nước thải trong thành xuống, dìm chết hai trăm binh sĩ Mông Cổ. Sau đó, Vương Lập phái quân đuổi theo phản kích, đương đêm đột nhập doanh trại kẻ địch, A Thuật phát hiện ra, triển khai tấn công vu hồi, hai ngàn quân Tống bị đánh bẹp như bánh bao nhân thịt, một đi không trở về. Kịch chiến mười mấy ngày, song phương vẫn ở thế giằng co, bất phân thắng phụ. Quân Mông Cổ thương vong nặng nề, quân Tống cũng tổn thất không nhẹ. Lính Mông Cổ sĩ khí mỗi ngày một giảm sút, thành Hợp Châu cũng nhà nhà cử tang, người người hờ khóc. Song Mông Cổ vẫn ngoan cường, còn quân dân Hợp Châu sợ hãi thảm kịch khi thành bị phá nên cũng liều mạng chống cự, nam phụ lão ấu đều không tụt lại sau.

Ngày ngày Văn Tĩnh lên thành đốc chiến, luôn phải chứng kiến những cảnh máu chảy thây phơi, muốn khóc mà không ra nước mắt, lòng đau như cắt. Đứng xem đã thảm, nhưng về phủ rồi, mỗi lần hồi tưởng cảnh tượng thảm khốc trên sa trường, gã không chịu nổi lại nôn thốc nôn tháo, đêm gặp ác mộng triền miên. Đến ngày thứ năm, tâm lực kiệt quệ, Văn Tĩnh phát bệnh nằm liệt giường. Đại chiến đang đến hồi dữ dội, chư tướng đều gánh trọng trách trên vai, chỉ thi thoảng ghé thăm rồi lại vội vã đi ra. Lương Thiên Đức ngại tai vách mạch rừng, cũng không tiện nói nhiều.

Được Nguyệt Thiền tận tụy chăm sóc hai ngày hai đêm, Văn Tĩnh bớt sốt. Không phải lên đầu thành nữa, đỡ tâm bệnh, gã lặng lẽ vận nội công, mồ hôi chảy ròng ròng. Được thuốc thang tẩm bổ, được Nguyệt Thiền hầu hạ, ba ngày sau, khỏi phong hàn, gã bắt đầu xuống giường đi lại.

Văn Tĩnh bình phục, nhớ ra mấy ngày rồi không gặp Ngọc Linh, chẳng biết nàng thế nào, cũng chưa thấy Bạch Phác đến thăm mà hỏi tin. Canh cánh trong lòng, mặc sức còn yếu, gã lần tìm đến thạch lao, chỉ thấy nhà giam trống rỗng, không một bóng người, Văn Tĩnh kinh ngạc vô cùng. Suy đoán lung tung, bỗng gã nghĩ ra: “Nhân lúc ta ốm, Bạch Phác đã hạ sát nàng rồi không chừng?”

Nghĩ tới đó, gã lạnh toát người, hùng hổ đi ra, tìm thẳng đến nơi nghỉ của Bạch Phác, vừa đúng lúc chạm mặt y, gã hằm hằm túm lấy, tức giận hỏi: “Tiêu cô nương đâu?”

Bạch Phác khẽ phất năm ngón tay, vạch nhẹ lên cườm tay Văn Tĩnh. Gã thiếu niên thấy tê dại, buông lỏng tay, nhưng vẫn thở hổn hển, nhìn Bạch Phác trừng trừng. Trước bộ dạng hung dữ của gã, Bạch Phác cau mày tự nhủ: “Thằng oắt này đúng là bị ma ám, tại sao lại thích thứ con gái đó kia chứ?” Văn Tĩnh chực lao tới lần nữa, Bạch Phác lùi một bước, xua tay bảo: “Đừng vội, nghe ta nói đã nào.”

“Ông… ông đã giết nàng rồi phải không?” Văn Tĩnh dấn bước lên, nghiến răng, chỉ cần Bạch Phác đáp “Phải”, hẳn gã sẽ liều mạng với y.

Bạch Phác lắc đầu: “Mấy ngày em ốm, quả thực có chuyện xảy ra với con bé đó, nhưng ta không giết nó.”

Văn Tĩnh thở nhẹ, nhưng nghe nói có chuyện xảy ra, lại dồn dập hỏi: “Nàng… nàng làm sao?”

“Dạo em ốm, không gặp được em, nó cứ như lên cơn, bỏ ăn bỏ uống. Bọn ta tìm một bà đến bón cơm cho, nào ngờ nó cắn đứt cả ngón tay bà ấy. Đêm hôm qua chẳng hiểu nó moi đâu ra một cái trâm, mở khóa trốn thoát, vừa may ta kịp thời đuổi theo…”

“Ông… ông làm nàng bị thương?” Văn Tĩnh cay mắt, thầm nghĩ: “Mấy ngày vừa rồi, nàng đã chịu đau khổ đến điều… Văn Tĩnh ơi Văn Tĩnh, ngươi… ngươi đúng là một gã ngu xuẩn.”

Bạch Phác bất lực gật đầu: “Em cũng biết mà, con bé đó võ công ghê lắm, hôm qua lại hung hăng lạ thường, nếu gượng nhẹ thì bắt sao được?”

Văn Tĩnh hỏi: “Cô ấy đang ở đâu?”

“Hừm…” Bạch Phác nói: “Lần này nó bị thương nặng đấy, ta đã mời đại phu, ở căn phòng phía tây đằng trước…”

Không đợi y nói dứt, Văn Tĩnh đã chạy thẳng đến căn phòng phía tây, xô cửa vào, trông thấy Ngọc Linh mặt vàng như nghệ, nằm thiêm thiếp trên cái sập gụ, cạnh đó có mấy nữ tì, nhưng đều đang đứng cách rất xa, co ro cúm rúm, không dám tới gần.

Văn Tĩnh bước đến ngắm Ngọc Linh, bất giác lệ tuôn ròng ròng, nước mắt lạnh giá rơi xuống mặt nàng. Cô gái từ từ tỉnh giấc, trông thấy Văn Tĩnh, đôi mắt ảm đạm bỗng sáng bừng, “Mình… mình đến rồi?” Nàng dịu dàng nói, tuy không cử động được nhưng thần sắc hoan hỉ vô cùng, mắt lấp lánh cười, lệ châu cũng theo khóe mắt chảy ra.

Văn Tĩnh nắm chặt tay nàng, hai người say sưa nhìn nhau, ngàn lời vạn ý đong đầy trong ánh mắt. Hồi lâu, Ngọc Linh lên tiếng, giọng êm dịu: “Vì sao không đến thăm em?”

Văn Tĩnh cay mắt: “Tôi… tôi ốm.”

“Á!” Ngọc Linh cố sức giãy giụa, nhưng kiệt sức, không dậy được: “Mình… mình không sao chứ?”

“Không sao, khỏi rồi.”

Ngọc Linh ngắm gã bảo “Sau này không được phép ốm nữa.”

Văn Tĩnh bối rối: “Hử, bệnh tật đâu do mình quyết định được?”

“Mặc kệ… khụ khụ… đằng nào… em cũng không… cho phép mình ốm.” Ngọc Linh thổ huyết. Văn Tĩnh đương cuống quýt không biết làm thế nào, một cánh tay bỗng đâu thò ra, nhanh như cắt nhét một viên hoàn đan màu lam nhạt vào miệng Ngọc Linh, thuốc vừa vào là tan, người đó lại bấm huyệt Thiên đột4 của nàng, thuốc lập tức trôi xuống.

Văn Tĩnh ngoái cổ nhìn. Bạch Phác, mặt không biểu lộ gì, đứng sau lưng gã.

Ngọc Linh cố sức khạc nhổ: “Phì… phì… ta, ta không uống cái thứ thối tha của nhà ngươi, phì… phì…”

“Đừng nên xử sự theo cảm tính. Tùng Vận đan, cả thiên hạ chỉ có ba viên, uống vào sẽ tốt cho cô đấy.” Bạch Phác lạnh lùng nói, đoạn bảo đám tì nữ: “Ra ngoài hết.” Rồi y cũng đi ra, tiện tay khép cửa lại.

Văn Tĩnh nghe nói thuốc quý như thế, vội khuyên: “Em uống đi, đừng nhổ ra nữa.” Ngọc Linh lườm gã, bĩu môi bảo: “Mình cũng muốn giúp cái thằng dài lưng tốn vải đó hả?”

Văn Tĩnh đỏ mặt: “Không, tôi… chỉ lo cho em mà thôi.”

“Được rồi, mình bảo em uống, em cũng nể mặt hắn vậy.” Ngọc Linh nói, cảm thấy nơi ngực dễ chịu rất nhiều, thầm nhủ: “Cái thứ đan dược thối tha này hiệu nghiệm thật.” Nàng níu tay Văn Tĩnh: “Mình sẽ bên em cả đời chứ?”

“Tất nhiên…” Văn Tĩnh đáp.

“Nếu lần này em chết, mình có đi tìm người đàn bà khác không?” Ngọc Linh hỏi.

Văn Tĩnh vội bảo: “Đừng nói gở như vậy.”

“Mình biết không, mình chẳng đến thăm em, họ lại không báo cho em biết tin tức của mình, em… em chỉ nghe thấy tiếng quân Mông Cổ công thành, cứ tưởng mình đã tử trận rồi… đằng nào…” Đôi mắt to của nàng lóe sáng: “Mình mà chết, em cũng không sống nữa.”

Văn Tĩnh chẳng ngờ nàng lại si mê đến vậy, ngực nóng ran, gã run giọng đáp: “Được. Không sinh cùng ngày cùng tháng cùng năm nhưng nguyện chết cùng năm cùng tháng cùng ngày.”

Ngọc Linh ngả đầu vào ngực gã: “Em luôn cảm thấy mình khác tất cả mọi người. Em biết lời mình là chân thành, mình mà nói đối tốt với em, nhất định mình sẽ đối tốt với em. Sư phụ và sư huynh tuy cũng nói thật lòng, nhưng họ rất ít mở lời.”

Văn Tĩnh thấy rối tung cả đầu: “Vậy ư? Tôi… tôi…” Gã đột nhiên thở dài: “Đáng tiếc, tôi bây giờ thân bất do kỷ, nếu không có chinh chiến, không có cái vỏ Hoài An vương này thì tốt biết bao. Quả thực tôi rất ghét đánh giết, chỉ muốn tìm một nơi yên bình, phong cảnh hữu tình, sống êm đềm ngày tháng.”

“Đưa em đi chứ?” Ngọc Linh hỏi.

“Đương nhiên là sẽ đi với em rồi.” Văn Tĩnh cười: “Cả cha nữa.”

Ngọc Linh chìa bàn tay trắng muốt “Nhất định thế nhé, không được nuốt lời đâu đấy.”

Văn Tĩnh cũng thò tay: “Nhất định.” Hai người toan đập tay, bỗng nghe thấy Bạch Phác gọi: “Thiên tuế, Vương Kinh lược sứ cầu kiến.”

Ngọc Linh cong môi tức giận: “Hừ, cái tên thối tha này dám nghe trộm.”

Văn Tĩnh chẳng còn cách nào khác, đành đứng dậy.


oOo


“Thiên tuế khí sắc kém tươi.” Vương Lập chào, rồi cùng các tướng ngồi xuống: “Mấy hôm trước thiên tuế sinh bệnh, chúng thuộc hạ không dám quấy nhiễu người, nhưng tình hình mỗi ngày một cấp bách, quân Mông Cổ bất chấp thương vong vẫn tấn công dữ dội. Nếu bọn chúng đánh thêm vài ngày nữa, chỉ e…” Vương Lập nhìn quanh, mọi người đều im thin thít.

Văn Tĩnh cũng tắc tị, đưa mắt sang Bạch Phác. Bạch Phác trầm ngâm chốc lát, đứng dậy nói: “Thuộc hạ có một kế sách, may ra hữu hiệu.”

“Mời Bạch tiên sinh.” Văn Tĩnh thở phào, nhưng chẳng vui vẻ gì.

Bạch Phác nói: “Xin lên đầu thành xem.”

Mọi người lên đầu thành, Bạch Phác trỏ ra dãy đồi trọc nơi xa “Quân Thát rất giảo hoạt, một là sợ chúng ta dùng hỏa công, hai là phải gấp rút chế tạo khí giới công thành, đã đem tróc sạch cây cối trên núi. Chim chóc mất nơi trú ngụ, lẽ ra phải bay hết đi nơi khác, nhưng các vị đã bao giờ nhận ra trong doanh trại Mông Cổ thi thoảng vẫn có chim bay lên bay xuống, cứ tập trung thành từng cụm, số lượng cũng rất nhiều không?”

“Ô…” Vương Lập vuốt râu giả bộ hiểu.

Văn Tĩnh thì sáng mắt hỏi: “Phải chăng nơi có chim bay lên xuống chính là chỗ tích lương của đại doanh Mông Cổ?”

Bạch Phác gật đầu với gã tỏ ý tán thưởng, thầm nghĩ: “Cứ bảo thằng nhóc ngây ngô, nhưng đôi lúc rất thông mình, còn bảo hắn thông minh thì…” Y không đủ thời gian nghĩ tiếp, lại nói: “Thiên tuế dạy rất phải, người Mông Cổ ăn thịt trâu thịt dê, nhưng trâu hay dê gì thì cũng phải nuôi bằng cỏ rạ. Thêm vào đó, hoàng đế Thát lần này thân chinh, đã huy động hàng chục vạn binh mã và dân phu người Hán ở phương bắc, những người đó đều sống bằng kê, bằng lúa mạch, tôi cho rằng những nơi chim chóc lên xuống chính là chỗ dồn trữ lương thảo của đại quân Mông Cổ, chỗ nào nhiều chim, chỗ đó càng nhiều lương.” Các tướng chăm chú quan sát, quả nhiên thấy đúng như vậy.

“Bảy ngày nay, mấy chục vạn nhân mã Mông Cổ đã tiêu dùng rất nhiều lương thảo, nếu đốt trụi đống lương thảo đó, bọn họ không lui binh thì cũng chùn nhụt hẳn, giảm nhẹ sức ép cho chúng ta!” Bạch Phác nói với ánh mắt sáng ngời, khuôn mặt tươi tắn.

Vương Lập vuốt râu: “Nói nghe xuôi lắm, nhưng làm mới biết khó, mấy hôm trước tập kích quân doanh đã mất mạng cả đấy thôi.”

Bạch Phác cười: “Chớ tưởng kế gì cũng chỉ nên dùng một lần, tôi nghĩ cứ tiếp tục theo cách đó. Bọn Mông Cổ nhất định không ngờ nổi chúng ta vừa thảm bại đã đến tập kích nhanh thế, huống hồ lần này tiến hành thật kín đáo, đừng cho nhiều người đi quá, chỉ trăm người là đủ rồi.”

Vương Lập sửng sốt: “Một trăm người đột nhập, khác nào dâng mỡ miệng mèo, chả đúng mong muốn của quân Thát quá ư?”

“Vì vậy, một trăm người đó võ nghệ phải thực tinh thâm, biết ứng biến.” Bạch Phác giải thích: “Hiện nay rất nhiều hào kiệt võ lâm Xuyên trung đang tận sức trong thành, đây chính là cơ hội lập công của họ. Bạch mỗ bất tài, xin đi hàng đầu.”

Vương Lập thầm nghĩ: “Vỏn vẹn trăm người, chết cũng không tiếc, cứ để chúng thử xem.” Đoạn nói: “Được!” Văn Tĩnh không có ý kiến gì khác, cũng hùa theo khen phải.

Lương Thiên Đức can: “Không được. Còn tên sát thủ áo đen xuất quỷ nhập thần, chỉ Bạch tiên sinh mới đối địch được hắn, lúc ông đi vắng hắn thừa cơ giết người thì chí nguy.”

Bạch Phác giật mình, băn khoăn ngẫm nghĩ: “Khó đây, hôm trước vây đánh tên ấy khiến hắn bị thương nặng, ta đã mấy lần bắn tin, đem sư muội hắn làm mồi nhử mà chẳng thấy động tịnh gì. Nhất định hắn đã tìm được một nơi vắng vẻ dưỡng thương rồi, chẳng biết bao giờ hắn sẽ thò mặt ra?”

Lương Thiên Đức nói: “Lương mỗ cũng vọc vạch chút ít công phu, tuy không đến mức tinh thâm, nhưng cũng tạm đối phó được, nguyện đi thay Bạch tiên sinh.”

Văn Tĩnh hoảng hồn nghĩ bụng: “Bố rối trí rồi!” Gã toan lên tiếng ngăn cản, đã thấy hai mắt Lương Thiên Đức chĩa vào mặt mình, sợ quá thậm chí không đứng dậy nổi.

Bạch Phác mừng rỡ nhủ thầm: “Bọn võ sinh kia vốn là một lũ ô hợp, Lương tiên sinh có cái tài của đại tướng, sẽ dẫn dắt được chúng.”

Nghiêm Cương nói dõng dạc: “Nghiêm mỗ cũng xin đi.” Lưu Kình Thảo bước theo thỉnh mệnh, chỉ có Đoan Mộc Trường Ca không lên tiếng, Bạch Phác liếc lão, thầm nghĩ: “Người này võ nghệ vừa phải, được mỗi cái âm khí bức nhân, chẳng hiểu đang nghĩ gì? Lần này lành ít dữ nhiều, hắn không muốn đi, ta cũng không miễn cưỡng.” Mọi người thỏa thuận xong, Vương Lập truyền lệnh xuống, chọn khoảng một trăm cao thủ giao cho Lương Thiên Đức dẫn đầu, chọn ngày đột kích doanh trại địch.

Trở về Trúc Hương viên, Văn Tĩnh mặt mày xám xanh. Biết gã có chuyện không vui, nhưng không tiện hỏi thẳng, Nguyệt Thiền thử dọ dẫm mấy lần, Văn Tĩnh cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn, tinh thần để đâu đâu.

Chợt nghe báo Lương Thiên Đức cầu kiến, gã nhảy cẫng lên bảo: “Mau mau mời vào!”

Nguyệt Thiền nghĩ thầm: “Thiên tuế xưa nay suy nghĩ kín đáo, ngoài mặt luôn tỏ ra uể oải, ngoài vị cô nương áo đen ấy, rất ít khi ông ta quan tâm đến việc gì như thế này.”

Lương Thiên Đức vừa đến cửa, Văn Tĩnh đã kéo tuột cha vào phòng ngủ, đóng sập cửa lại.

Lương Thiên Đức sầm mặt: “Mày cuống cà kê lên làm cái gì thế?”

“Bố, con van bố đừng đi.” Văn Tĩnh nói: “Lần này nguy hiểm quá.”

Lương Thiên Đức toan nổi giận, nhưng nhìn bộ dạng sướt mướt của con, liền dịu lại: “Nam tử hán đại trượng phu sinh ra trong trời đất quý ở hai chữ nhân nghĩa. Hiện tại ngàn vạn lê dân Hợp Châu tính mệnh như chỉ mành treo chuông, nếu thành bị phá, chắc chẳng ai may mắn thoát chết, so với điều đó, một chút nguy hiểm của ta thì có đáng gì?” Nói tới đây, lão nhướng mày: “Nhớ thuở xưa…” rồi hồi tưởng một lần nổi giận năm nào gây liên lụy đến cả gia môn, thê nhi lần lượt ngộ hại, nếu không có người bạn là Huyền Âm đạo nhân thì cũng không giữ được cả đứa con thơ này. Dung nhan và giọng nói của người vợ quá cố lướt qua óc, bất giác lão nhói ngực, đứng ngẩn ra một lúc. Lại nhìn Văn Tĩnh nước mắt lưng tròng, lão càng cảm thấy đau đớn, đưa tay gạt lệ cho con: “Thằng bé ngốc này, nam nhi đổ máu chứ không rơi lệ!”

Văn Tĩnh lau mặt qua quýt, nén khóc nói: “Bố, lần trước con lén lút bỏ trốn, thực không phải, sau này không dám làm bố giận nữa. Bố đừng đi, được không?” Tới đây, gã lại trào nước mắt.

Lương Thiên Đức lắc đầu bảo: “Người lớn cả rồi, đừng làm nũng thế. Lần trước ta cũng đoán được là tự con trốn đi, vì vậy không lo lắng lắm. Con bẩm tính mềm yếu, không gánh vác được trách nhiệm lớn lao, quả tình đã làm khó con.” Lão thầm nghĩ sống chết chưa biết thế nào nên nói năng hiền hòa hẳn, khiến Văn Tĩnh càng thêm muốn khóc.

“Con giả mạo Hoài An vương, thực vô cùng nguy hiểm. Sự việc bại lộ tất mang họa sát thân, chuyến đi này, nếu ta thất bại không trở về, Hợp Châu e rằng khó giữ, con… con hãy thay đổi y phục, mau rời khỏi đây!” Lương Thiên Đức thở dài: “Ta để con dấn thân vào việc thị phi, chẳng biết là đúng hay sai, nắm xương già này dẫu có rải trên núi Ba sông Thục cũng đành lòng, nhưng con tuổi còn trẻ, ngày tháng còn dài…” Lão đưa Văn Tĩnh cái gói cầm trên tay, hào khí ngút trời chốn sa trường bỗng biến sạch, ánh mắt đượm yêu thương, đúng vẻ mặt một người cha hiền từ.

Văn Tĩnh biết tâm ý cha đã quyết, không cách nào thay đổi được, gã đỡ lấy khăn gói, đứng ngẩn người, những muốn khóc rống lên. “Bố, bố nhất định phải trở về.” Cuối cùng gã chỉ thốt ra được một câu như vậy.

Lương Thiên Đức nhìn con chăm chú, bật cười ha hả, đẩy cửa bước ra.


oOo


Gió thu hun hút lướt qua đầu thành, trên cao trăng sao nhàn nhạt. Văn Tĩnh để mặc tà áo bay phần phật, chăm chăm ngóng sang đại doanh Mông Cổ, ở đó đèn đuốc lốm đốm, như sáng thay màn sao trên trời.

Hốt nhiên, một ngọn lửa bùng cháy, càng lúc càng rỡ ràng, càng lúc càng lan rộng, tựa vầng thái dương nóng bỏng, từ từ dâng lên khoảng trời phương bắc.

“Thành công rồi.” Chư tướng nhà Tống nhất loại reo hò. Văn Tĩnh thì biết sau khi lửa cháy mới là lúc nguy hiểm nhất, tim đập bình bình như muốn phá ngực lao ra.

Bạch Phác nhìn vẻ căng thẳng của gã, đoán được phần nào, bất giác thở dài.

Lửa càng lúc càng lớn, trong doanh trại Mông Cổ, người hét ngựa hí cực kỳ hỗn loạn, bỗng đại môn bật mở, chừng hai mươi kỵ mã lao ra như tên bắn, gấp rút phóng về phía thành Hợp Châu. Kỵ binh Mông Cổ đeo sát đằng sau. Bạch Phác bật kêu “Hơn một trăm người đã thiệt quá nửa?”

Văn Tĩnh mở to mắt tìm bóng cha, chợt thấy trong bọn có một người quay mình giương cung, rồi mấy tên kỵ sĩ Mông Cổ ngã ngựa, gã không kìm được reo lên hoan hô.

Truy binh càng lúc càng đông, tên bay như châu chấu, hơn hai mươi kỵ mã lại mất đi một nửa. Văn Tĩnh chẳng để tâm gì đến những người khác, chỉ chăm chăm nhìn cha, thấy ông già tụt lại sau, mỗi lần giương cung đều bắn liền mấy mũi, bách phát bách trúng, đoạn hậu cho mọi người, gã lo lắng vô cùng, chỉ hận không thể tiếp thêm đôi chân mình thúc ngựa cho cha, còn việc gã thúc ngựa liệu có nhanh hơn được không, gã chẳng hề nghĩ đến.

Đoàn người dần dần áp sát thành Hợp Châu. Văn Tĩnh kêu to: “Mở cửa thành!”

Chư tướng ngơ ngác. Lý Hán Sinh nói: “Không được, quân Thát đuổi rát quá, nếu mở cửa, chúng sẽ thừa cơ xông vào.” Văn Tĩnh nín lặng.

Bên kia pháo nổ vang trời, đại quân Mông Cổ ùa ra khỏi doanh trại, ùn ùn tràn về phía Hợp Châu. Quân Tống nhất tề giương cung nỏ, bắn cũng dở, không bắn cũng dở, bắn thì sợ trúng người mình, không bắn thì quân Thát sẽ lại gần, tạm thời ngần ngừ chưa quyết.

“Thả dây,” Bạch Phác thét to. Câu nói ấy đã nhắc nhở mọi người. Mười mấy sợi thừng từ đầu thành dòng xuống, toán đột kích cũng vừa về tới nơi. Lưu Kình Thảo lập tức tung mình bắt lấy thừng, nhấp nhô chốc lát đã lên tới đầu thành. Nghiêm Cương tóm được một sợi theo ngay đằng sau. Lương Thiên Đức tụt lại bắn cung đoạn hậu, bắn ngã mấy tên Thát rồi quơ lấy một sợi thừng.

Xạ thủ Mông Cổ tràn tới, xối tiễn như mưa lên tường thành. Nghiêm Cương và ba hảo hán Xuyên trung trúng tiễn, rơi xuống. Nghiêm Cương bị thương vào bắp tay, chật vật leo lại, chợt thấy một đồng đội thắt lưng trúng tên đang loạng choạng, y bèn đưa tay ra dìu, nào ngờ mấy chục tên Mông Cổ đã đuổi kịp, loạn đao chém xuống, máu thịt tơi bời.

Lương Thiên Đức đu sợi thừng chao đi chao lại tránh tên, đu mấy lượt chỉ còn cách đầu thành chừng mười trượng. Văn Tĩnh cuống quýt, không bận nề hà thân phận thò tay kéo binh sĩ. Lương Thiên Đức sắp tới gần, chợt nghe thấy một tiếng động lạ cực lớn, rồi một mũi tên bay tới, mạnh và nhanh vô cùng, khác hẳn những mũi tên bình thường. Lương Thiên Đức lơ lửng giữa lưng chừng trời, không tránh được, hự một tiếng, bị găm cứng vào tường thành5.

Văn Tĩnh hít một hơi lạnh buốt, gắng sức kéo thừng. Mũi tên thứ hai tới nơi. Lương Thiên Đức nghe lưng đau nhói, tuột tay ngã ngửa xuống dưới, còn lờ mờ trông thấy Văn Tĩnh với đôi mắt kinh hoàng. Lão ngáp ngáp miệng muốn nói, nhưng xung quanh tràn ngập tiếng người reo ngựa hí tựa núi đổ triều dâng, hơi nói thoát ra khỏi họng liền chìm lỉm đi như bọt nước khuất dạng dưới lòng biển cả. Tấm thân hùng tráng vừa rơi bình xuống đất, đao thương nhọn hoắt từ bốn bề đã cấp tập xỉa vào.

Văn Tĩnh nhìn đầu thừng, run bắn, sau ngước mắt trông ra xa, nơi ấy có một viên tướng áo lam cưỡi con ngựa đen tuyền đang giương cung lắp tên ngắm lên tường thành. Gã vụt thấy ngực trĩu nặng, hai mắt tối sầm, lảo đảo ngã vật ra đất.


oOo


Mùi long não nồng nồng ngập đầy phòng ngủ lót gấm. Văn Tĩnh bàng hoàng tỉnh khỏi trạng thái hỗn độn, người ngâm ngẩm đau như bị chặt đôi. Gã ngây dại nhìn bức trướng mẫu đơn diễm lệ trên đỉnh giường, nước mắt theo gò má lặng lẽ chảy xuống, từng giọt từng giọt một, thấm ướt chiếc gối ngọc trơn nhẵn tinh xảo.

“Thiên tuế bị bệnh gì vậy…” Tiếng nói chuyện của Vương Lập và lang trung từ ngoài cửa văng vẳng vọng vào, rồi xa dần xa dần. Tia nắng ban mai lọt qua khung cửa gỗ đàn hương chạm hoa, rơi xuống nền đá xanh trống rỗng, Nguyệt Thiền nhẹ nhàng bước trên nền đá đến bên giường, đứng một lúc, xong cũng với những bước chân nhẹ nhàng ấy, nàng lặng lẽ đi ra.

Văn Tĩnh ngồi dậy, lôi từ dưới gầm giường lên bọc khăn gói vải xanh Lương Thiên Đức đưa hôm nọ, mở ra xem, bên trong có bộ áo vải thô và khoảng một trăm lượng bạc. Gã nắm chặt một chéo áo, trong đầu lại hiện lên hình ảnh của cha, không kìm được nước mắt ròng ròng chảy. Gã mở khung cửa chạm hoa, nhảy ra ngoài.

“Đi đấy ư?” Có tiếng nói vang lên bên cạnh, không cần quay đầu Văn Tĩnh cũng biết đó là ai.

“Phải!” Gã chậm chạp đáp: “Bố mất rồi, tôi ở lại đây làm gì?”

Bạch Phác gạt đám lá trúc lòa xòa bước ra: “Có một người nữa đấy, em định bỏ mặc ư?”

Văn Tĩnh rùng mình, lạnh lùng nói: “Bạch tiên sinh quả nhiên cao minh, ngoài bố tôi ông còn kiềm thúc một người nữa, định dùng cô ấy để trói buộc tôi chăng?”

“Vì nước vì dân, cho dù bị người đời chỉ trỏ chửi mắng là đê tiện hạ lưu, ta cũng cam lòng.” Bạch Phác điềm tĩnh trả lời: “Hiện tại còn chưa chắc thắng, em chưa đi được.”

Văn Tĩnh nghiến răng với y, cười khẩy: “Đáng tiếc ông đã tính sai một nước, cô ta là người Mông Cổ, người Mông Cổ…”

Thấy gã khác hẳn ngày thường, Bạch Phác chưng hửng, giơ tay vỗ vai gã hỏi: “Em không sao chứ?”

Văn Tĩnh lắc mình tránh, nói giọng đanh thép: “Người Mông Cổ đã giết bố tôi, tôi còn thích cô ta được ư?” Gã vùng bước tới, nhìn Bạch Phác trừng trừng: “Còn ông, nếu ông không quấn lấy cha con tôi, bố tôi cớ gì phải đến đây, cớ gì phải chết dưới thành này?” Gã giật Cửu Long ngọc lệnh ra khỏi thắt lưng, hằn học ném vào Bạch Phác, gằn giọng bảo: “Mông Cổ và các ông, đều xấu xa!” Nói tới đây, lệ doanh tròng, gã điểm mặt Bạch Phác, nghẹn ngào lặp lại: “Các ngươi, các ngươi đều là kẻ xấu!”

Đoạn gã co chân chạy ra khỏi rừng.

Bạch Phác gọi với theo: “Em căm hận, ta không cấm cản được, song có một chuyện ta cần báo cho em biết. Tiêu Lãnh đã ra mặt, giết chết mấy chục quân dân vô tội, ta vừa bắn tin, trong vòng ba canh giờ nữa, ở chùa Tàng Long phía đông thành, một mạng đổi một mạng, dùng tính mệnh sư muội hắn đổi lấy tính mệnh hắn, nếu quá giờ mà hắn không đến, con tin mất tác dụng, ta quyết không nương tay.”

Văn Tĩnh hơi rùng mình, rồi lập tức cười khẩy: “Can hệ gì đến ta?” Gã không ngoái đầu lại, cứ cắm cúi sải bước đi rõ nhanh, nhảy bật lên ngược hướng nắng mai, vạch một đường vòng cung đẹp mắt trên không, lướt qua bờ tường cao hơn một trượng.

“Thằng bé này, võ công tiến bộ lắm rồi!” Bạch Phác cười buồn, nhặt tấm Cửu Long ngọc lệnh lên, giắt vào thắt lưng, phất tay áo, đi sâu vào rừng trúc rậm.


oOo


Mông Ca nhìn chằm chằm ngọn lửa chưa tắt và những đụn khói nhẹ lập lờ, mặt lạnh băng.

Ông giơ chân hất những xác dê bò đã cháy đen, quét mắt nhìn mấy chục người đang quỳ la liệt dưới đất, đó là đám quan viên lớn nhỏ có nhiệm vụ bảo vệ kho lương.

“Các ngươi làm việc giỏi lắm!” Mông Ca nghiến răng cười, nụ cười nanh ác lạ lùng: “Vì sao địch nhân vào được?”

Một người đứng đầu run rẩy thưa: “Hạ… hạ thần… đêm qua, còn… còn đi tuần một lượt, sắp xếp canh gác xong xuôi mới trở về lều nghỉ… vừa chợp mắt…”

Mông Ca sốt ruột, xua tay quát: “Chặt đầu tất cả.” Thị vệ nhất tề vung đao kiếm chém xuống, đầu người rụng đầy mặt đất, máu tươi rỉ theo chỗ trũng, tụ thành vũng.

Mông Ca lạnh lùng quay mặt đi hỏi: “Tuần sát đêm qua là ai?”

Một người bước ra khỏi hàng, lạy thưa: “Mạt tướng Na Bất Oát, tuần tiễu không trọn chức trách, chỉ biết lấy cái chết để tạ ân vạn tuế.” Nói đoạn, rút loan đao ra khỏi thắt lưng, cứa lên cổ, ngã gục xuống.

Mông Ca gật gật đầu: “Người này dám làm dám chịu, không đánh mất bản sắc hảo hán Mông Cổ. Hậu táng cho hắn.”

Ông ta hỏi Sử Thiên Trạch: “Hiện tại lương thảo còn dùng được bao lâu?”

Sử Thiên Trạch bẩm báo: “Hiện tại lương thảo chỉ đủ dùng ba ngày, đội tải lương phải sáu ngày nữa mới tới.”

“Ba ngày?” Mông Ca nhíu mày, nhìn lướt khắp chư tướng: “Theo các ngươi thì nên làm sao đây?” Thấy mặt Mông Ca chẳng lành, ai nấy len lén liếc nhau không dám đáp. Bá Nhan toan bước ra khỏi hàng, Sử Thiên Trạch đứng gần đó bèn nắm y lại. Bá Nhan nhìn sang, đương thắc mắc, một tướng đã tiến lên, người đó tên gọi An Đạc, chức Thiên phu trưởng. An Đạc nói to: “Lương thảo có ảnh hưởng đến sĩ khí toàn quân, hiện nay không tiếp vận kịp, xin Đại hãn hồi giá Lư Châu tính kế khác.”

Mông Ca không đếm xỉa đến, ngửa mặt lên trời lẩm bẩm: “Ba ngày? Ba ngày ư?” Ông ta ngoảnh lại, bay lên mình Trục Nhật, phóng đi giữa bụi đất mịt mù.


oOo


Văn Tĩnh đến trước cổng thành, thấy cửa lớn đóng chặt, canh gác sâm nghiêm, gã dừng bước thầm nhủ: “Ta thật hồ đồ, hiện tại đang đánh nhau, làm sao mà ra được?”

Lúc ấy một viên hiệu úy đang khuyết tráng đinh, trông thấy gã liền gọi: “Tên hèn hạ kia mau lại đây khuân đất.” Văn Tĩnh sửng sốt co chân chạy, hiệu úy bèn hô hoán, bảy tám tên lính Tống chạy theo bắt. Văn Tĩnh lập tức thi triển Tam tam bộ, mấy người vồ hụt, đâm vào nhau ngã dúi dụi, chẳng hiểu ra sao. Họ lồm cồm bò dậy, gã thiếu niên đã mất dạng.

Văn Tĩnh chạy một thôi rồi đỗ lại sau một bức tường, trông ra bên ngoài thấy vô số dân phu đang bị đánh roi thúc đi, đủ cả nam phụ lão ấu, khóc rên váng trời.

“Thằng ranh!” Một giọng khản đặc cất lên sau lưng: “Mày cũng trốn bắt phu phải không?” Một bộ mặt già khọm răn reo như vỏ quýt hé ra dưới một cái lờ rỗng, ánh mắt đục ngầu mò mẫm trên mặt Văn Tĩnh.

Văn Tĩnh gật đầu, lão già bèn thò cái chân gày nhẳng ra bảo: “Mày không nên trốn. Già đây là do quả thực không đi nổi nữa, lại không có tiền bạc biếu quan gia mua rượu uống, cũng không có gái đẹp hiến quan gia ôm ấp, bất đắc dĩ mới phải trốn, mày còn trẻ, gặp chuyện này không trốn được.”

Văn Tĩnh lặng thinh, rồi hỏi: “Bọn quan binh khốn nạn, ức hiếp người nghèo, ép họ làm những việc họ không muốn. Triều đình như thế đáng để người ta bán mạng hay sao?”

“Già chẳng biết triều đình gì cả.” Lão nọ nói: “Già chỉ biết Mông Cổ đánh tới sẽ giết sạch đàn ông, cưỡng bức phụ nữ, cướp hết gà vịt, đốt trụi nhà cửa của chúng ta. Quan quân nhà Tống vẫn tử tế hơn, dẫu thế nào, họ cũng giữ gìn tính mệnh của người Hợp Châu, gặp phải thời buổi này, giữ được tính mệnh là tốt lắm rồi…” Lão già chừng như trốn quá lâu, mãi mới tìm được người để tâm sự, cứ lắp bắp nói không ngừng. Văn Tĩnh nghe đoạn trước ngẩn ra, đến đoạn sau lão ta nói gì gã cũng không chú ý nữa, mang máng nhớ là có cho lão già một đồng bạc vụn, rồi lơ mơ bỏ đi.

Gã đi lửng khửng một lúc, trong đầu vẫn hiện lên bộ mặt tức cười đó, gã buốt óc, nắm tay đấm mạnh vào tường, tay rướm máu, thần trí cũng tỉnh táo hơn, gã nghĩ: “Ta thực sự bỏ được nàng sao?” Nghĩ tới đây, Văn Tĩnh bất giác ngơ ngẩn ngước mắt nhìn, nhận thấy gần đó có một ngôi chùa nguy nga sừng sững, khí thế huy hoàng, thì ra trong lúc chân bước đưa chân, gã đã đến chùa Tàng Long ở phía đông thành.

“Đằng nào cũng đã tới, cổng thành không ra được, thôi thì ở lại xem diễn trò.” Văn Tĩnh lẩm bẩm định bước vào cửa, bỗng nghe loáng thoáng có tiếng nói, gã sững sờ nghĩ bụng: “Không nên chạm mặt họ thì hơn.” Gã bèn bước vòng qua bình phong, lờ mờ trông thấy bên tường một cây đại thụ vươn lên sừng sững, đứng trên đó có thể quan sát được mọi việc diễn ra trong chùa.

Nín thở, gã định thần nhìn kỹ. Bạch Phác đứng trước bồn hoa ở chái điện thờ, Ngọc Linh hai tay bị trói quặt ra sau, ngồi dưới đất, luôn mồm chửi mắng đối phương, miệng lưỡi nàng vốn sắc sảo, chửi người không kiêng kỵ gì. Bạch Phác tức giận đùng đùng, thi thoảng đáp lại nàng một câu, nhưng bị

Tài sản:


[Xem tất cả tài sản]
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
quynhmi
bài viết 29 Aug 09 01:55
    Gửi vào: #8
Ông Trùm Thành viên thứ: 242878 Tiền mặt: 98917050
Group Icon Tham gia: 1-March 09 Được cám ơn: 83
Nhóm: Members Bài viết: 1113 No Yahoo Messenger
Chương 7 – Mãn giang hồng

Bạch Phác mỉm cười:

- Ngươi đến rồi đấy ư?

Tiêu Lãnh nhìn Ngọc Linh:

- Phải!

Bạch Phác trỏ quạt xuống đỉnh đầu cô gái, thong thả nói:

- Vậy ngươi còn đứng đó làm gì, trở đao cứa cổ đi!

Tiêu Lãnh lắc đầu.

Bạch Phác cười khẩy:

- Sao, lẽ nào muốn sư muội ngươi phải nếm đủ mùi khổ sở mới chịu ra tay?

Tiêu Lãnh đáp:

- Hiện tại hai nước giao binh, ai vì chủ nấy, ngươi dùng những thủ đoạn đó, ta cũng không có gì để nói cả.

Y ném Hải Nhược đao xuống bên cạnh. Bạch Phác ngẩn người.

Hai mắt sáng quắc, Tiêu Lãnh nói:

- Hôm nay ta đến, không phải với tư cách dũng sĩ dưới trướng Mông Ca, mà với thân phận đồ đệ của Hắc Thủy nhất tuyệt. Ngươi định thế nào đây?

Hắc Thủy nhất quái là biệt hiệu võ lâm đặt cho Tiêu Thiên Tuyệt, bản thân ông ta cũng không bận tâm, nhưng Tiêu Lãnh coi thầy mình như thần, lại bỏ chữ “quái” đi, gọi là Hắc Thủy nhất tuyệt.

Bạch Phác nhíu mày, trầm mặc hồi lâu, chậm rãi hỏi lại:

- Đồ đệ của Tiêu Thiên Tuyệt ư?

- Đúng! Ta không dựa vào bảo đao, chỉ mong đấu một trận đường hoàng công bằng. - Tiêu Lãnh trầm giọng đáp.

Bạch Phác nhìn đối thủ từ trên xuống dưới:

- Không giở ngụy kế chứ?

- Không giở ngụy kế! - Tiêu Lãnh buông từng tiếng dứt khoát.

Bạch Phác hít một hơi thật sâu, gật đầu:

- Tuy sư phụ không cho ta dùng kiếm, cũng không nhận ta, - y bỏ quạt xuống bên cạnh - nhưng Bạch Phác này mãi mãi là đồ đệ của Công Dương Vũ.

Tiêu Lãnh quấn tấm áo đen:

- Mời!

Bạch Phác phất tay áo:

- Mời!

Hai người đều tiến tới một bước. Gió thu se sắt lùa qua cành cây. Văn Tĩnh rùng mình.


oOo


Bình minh lên, tỏa ráng hồng khắp trời, lá cờ tiết lông trắng bay phần phật theo gió. Trong đại doanh Mông Cổ, tiếng hồ già trỗi dậy bi hùng. Dứt ba hồi, mười vạn quân đội ngũ chỉnh tề đứng giữa núi sông, vây quanh một đài cao, vẻ mặt trang nghiêm, y giáp ngời sáng.

Mông Ca bước lên đài, ngẩng mặt nhìn quanh, hỏi to:

- Chúng ta có phải là con cháu của Thành Cát Tư Hãn không?

Mười vạn quân nhất tề đáp lời, rung chuyển trời đất:

- Có!

- Con cháu Thành Cát Tư Hãn có thua trận bao giờ không? - Mông Ca lại hỏi.

- Không!

- Đã từng bất lực trước một thành trì nào chưa?

- Chưa!

Mông Ca nhìn mọi người hô đáp nghiêm trang, khí thế hùng tráng, bất giác nhiệt huyết trào sôi:

- Bọn chó Tống có những chiến binh uy mãnh thế này không?

- Không! - Tiếng đáp rền như sấm, từng lớp từng lớp dội đi xa.

- Bọn chó Tống cho quân đến đốt lương thảo, muốn chúng ta chết đói. - Mông Ca quét mắt nhìn khắp mọi người - Các ngươi có sợ không?

- Không sợ! - Toàn quân bừng bừng nhiệt tình, đồng thanh hô lớn.

- Chúng ta còn lương ăn đủ ba ngày. Trong ba ngày, có đập vỡ được mai rùa đen bọn chó Tống không?

Ba quân cười rần, nhao nhao thét:

- Đập vỡ mai rùa đen bọn chó Tống!

Mông Ca khoát tay, mọi người trật tự. Giọng Mông Ca vang lên trầm trầm:

- Thời xưa có một viên tướng vượt sông, đốt cháy thuyền gỗ, phá hết lương thảo, chỉ để lại lương khô đủ ăn ba ngày, cuối cùng đánh bại được địch thủ đông hơn mình đến mấy chục lần. Đại quân chúng ta còn tinh nhuệ gấp mười viên tướng ấy, trong ba ngày, nhất định phá được Hợp Châu, giết sạch gà chó, lấy máu thịt quân Tống làm no bụng chúng ta.

Sĩ khí dâng cao cực điểm, quân Mông Cổ đồng thanh hét vang:

- Đúng! Lấy máu thịt quân Tống, làm no bụng chúng ta!

Mông Ca rút ống ra một mũi tên, quỳ một gối xuống, ngửa mặt lên trời:

- Ta, Bột Nhi Chỉ Cân Mông Ca, thề với trời đất trường tồn, thề với tổ tiên vĩ đại, không phá được Hợp Châu thì sẽ như mũi tên này!

Ông ta giơ cao hai tay, dụng lực bẻ. Mũi tên gãy làm đôi.

Đại quân Mông Cổ lặng im như chết, chỉ có tiếng gió vi vu lùa qua sơn cốc, thổi dải mũ của các tướng lĩnh bay kêu lật phật. Bỗng một chiến binh quỳ xuống, liền đó, như sóng đại dương tràn từ núi ra khe, mười vạn quân nhất loạt quỳ lạy trời đất, đồng thanh hô vang, tiếng hô chấn động màng nhĩ:

- Không phá được Hợp Châu, thì sẽ như mũi tên này!

Sử Thiên Trạch quỳ dưới đất, lòng ngập nỗi ưu tư, ngoảnh nhìn Bá Nhan bên cạnh, thấy đôi mày rậm của y cau rúm. Hai người cùng một ý nghĩ: “Thành kiên cố khó phá, lương thảo không đủ, còn miễn cưỡng tấn công…”

Họ đương mải nghĩ, Mông Ca đã đứng dậy, quét mắt nhìn khắp các tướng, gọi:

- An Đạc!

An Đạc bước ra khỏi hàng.

- Sáng nay ngươi nói với trẫm những gì? - Mông Ca cười gằn - Nói lại lần nữa xem!

An Đạc run lẩy bẩy, đáp gần như hụt hơi:

- Hạ thần hồ ngôn loạn ngữ, tội đáng muôn chết…

- Đao phủ! - Mông Ca thét to.

Một người lực lưỡng thân trên để trần, tóc chải ba búp, tay cầm rìu lớn đáp lời tiến ra.

Mông Ca dằn từng tiếng:

- An Đạc nói bậy làm rối lòng quân. Chặt đầu hắn tế đại kỳ của ta!

An Đạc chưa kịp phân trần đã bị ấn dúi xuống đất. Đao phủ vung rìu chém xuống. Cái đầu đẫm máu lăn đi long lóc.

Thầy tế lượm đầu đặt lên mâm vàng, nâng cao lên trời.

Đại quân Mông Cổ hoan hô ầm ĩ.

Mông Ca giơ thẳng cây cờ tiết mao - di vật của Thành Cát Tư Hãn.

- Nổi trống! - Ông ta nhìn về phía thành Hợp Châu, mắt sáng quắc.

Ngay lập tức, tiếng bước chân rầm rập của tướng sĩ át đi tiếng lanh lảnh của trống trận.


oOo


Tiêu Lãnh và Bạch Phác đấu được hơn trăm chiêu, chưởng phong khiến cỏ cây tan nát. Hạo Nhiên chính khí và Huyền Âm Li Hợp thần công ngập đầy không trung, vốn là hai loại chân khí tương khắc, chúng chạm nhau kêu xì xì. Theo đúng yếu lĩnh tiên phát chế nhân trong tuyệt học Hắc Thủy, Tiêu Lãnh thần tốc thi triển Như Ý Ảo Ma thủ, cấp kỳ chiếm lấy tiên cơ, song thủ biến ảo bất định, như sấm rung chớp giật, gió thổi mây bay.

Còn Bạch Phác vận dụng bộ pháp kỳ lạ, đứng sững tại chỗ, vận dụng Tu Di Giới Tử chưởng tới mức xuất thần nhập hóa, song thủ múa như bướm lượn hoa rơi, nhịp nhàng thong thả, hệt như một túi khí có tính đàn hồi, địch mạnh thì rút, địch yếu thì ra, thủ nhiều hơn công, nhưng không để mất khí độ tiêu sái.

Hai người dốc hết bản lĩnh bình sinh đặt cược cho một trận đấu sống mái. Văn Tĩnh xem đến hoa hết cả mắt, tim đập thình thịch. Gần một tháng nay, gã đã bước vào ngưỡng cửa công phu thượng thừa, kiến thức võ công vượt xa thằng bé ngờ nghệch dạo trước. Quan sát biểu hiện của hai người, gã dần nhận ra một số nguyên tắc, vừa xem vừa ấn chứng với Tam tài Quy nguyên chưởng, mỗi lần rút tỉa được điều gì, lại cảm thấy mừng rỡ vô cùng.

Tiêu Lãnh bị thương vừa khỏi, nay phải lao vào một trận đấu kéo dài thế này, vết thương có dấu hiệu tái phát, chưởng lực yếu dần, động tác cũng chậm hẳn đi.

Văn Tĩnh nghĩ bụng: “Tên áo đen sắp nguy rồi!”

Quả nhiên, chưởng lực của Bạch Phác đổ ra ào ạt, trong khoảnh khắc, tương quan công thủ lập tức hoán đổi.

Tiêu Lãnh xưa nay cực kỳ kiêu ngạo. Bình thời ngoài Tiêu Thiên Tuyệt, y không để ai vào mắt, lúc này bỗng rơi vào thế hạ phong dưới tay Bạch Phác, khó tránh khỏi tức giận. Y nhướng lông mày, chiêu thức đang cực nhanh biến thành cực chậm, hai cánh tay trầm xuống, song quyền nắm chặt. Chợt “vút”, mười ngón tay búng ra, năm đạo kình khí sắc như đao phong xé gió lao đi, loáng thoáng lẫn tiếng động rền như tiếng sấm.

Văn Tĩnh cả kinh: “Lợi hại thật, Bạch tiên sinh đỡ thế nào đây?”

Lộ công phu đó gọi là Khinh Lôi chỉ - tuyệt kỹ sở trường của Tiêu Thiên Tuyệt thời trẻ. Khinh Lôi chỉ có thể đánh cho đối thủ tơi tả, nhưng cũng làm nội lực bản thân tiêu hao ghê gớm, vì vậy Tiêu Thiên Tuyệt ít khi sử dụng, về sau ông ta ngộ ra nhiều chiêu thức bậc cao hơn nên càng không dùng đến nữa. Tiêu Lãnh luyện công chăm chỉ, phải cái tư chất hơi kém, chỉ đạt được năm phần mười công phu của sư phụ, tới lúc luyện Khinh Lôi chỉ thì càng chật vật, tiến bộ rất chậm, nhưng với trình độ của y hiện nay, nhìn khắp thiên hạ cũng ít gặp được địch thủ.

Trước Khinh Lôi chỉ, Bạch Phác lập tức thay đổi tư thái thong dong ban nãy. Vẻ mặt nghiêm túc, chiêu thức của y trở nên linh hoạt sắc sảo, phát ra tiếng gió vù vù, cương mãnh lạ thường, thi triển tuyệt học Ngọc Phủ Phá Tà thủ của Cùng nho, sức đủ khai sơn phá thạch, còn lợi hại gấp mười Đại Khai Bi thủ.

Văn Tĩnh khẽ lắc đầu:”Định đấu sức chăng? Hơi dại! Có điều, nếu không biết dùng Tam tài Quy nguyên chưởng thì xem ra cũng chẳng còn cách nào khác.”

Hai bên xuất thủ chậm đi, nhưng đã tới mức đọ chân lực, hung hiểm hơn nhiều so với cách đả đấu rối mắt ban nãy. Kình lực vừa tràn ngập không gian nay đều thu liễm vào chưởng chỉ. Gân cốt hai người kêu răng rắc.

Bản lĩnh Tiêu Lãnh vốn nhỉnh hơn Bạch Phác một chút, song vết thương hôm nọ chưa bình phục hẳn, nay giao đấu một lúc lại toác ra, thành thử sút kém phần nào, liên tục bị chưởng lực mạnh mẽ của đối phương ép lui. Y thoáng nghĩ: “Võ công của Hắc Thủy vô địch thiên hạ, ta là đại đệ tử của Tiêu Thiên Tuyệt, quyết không thể thua đồ đệ của Cùng nho.”

Nghĩ vậy, y hú lên lanh lảnh, sử ra ba chiêu, đều theo lối lưỡng bại câu thương. Bạch Phác đã nắm chắc phần thắng, chẳng màng tranh phong với địch thủ, bèn ung dung lướt về sau hai thước. Tiêu Lãnh tiến lên một bước, biến chỉ thành chưởng, tát mạnh tới, gió nổi bụi bốc, thanh thế vô cùng đáng sợ. Bạch Phác muốn tránh cũng không tránh được, bèn khum tay đón. “Bùm”, hai người dồn lực chạm một chưởng. Bạch Phác cảm thấy lực dính tỏa ra từ chưởng tâm đối thủ, không dứt tay về được. Y giật mình nghĩ bụng: “Ối! Hắn ta bất chấp sống chết, muốn tỉ đấu nội lực với mình…”

Y vội vã ngưng tụ chân khí chống đỡ Huyền Âm Li Hợp thần công của Tiêu Lãnh.

Hai người đều thúc động nội lực, thân hình vững như tượng đá, chỉ có râu tóc rung nhè nhẹ. Không khí bỗng lắng xuống, nghe thấy cả tiếng cành gãy lá rơi, liền đó một trận gió lướt qua, phát ra âm thanh xào xạc.

Mặt Tiêu Lãnh dần nổi khí xanh, còn Bạch Phác sắc diện đỏ rực. Nơi hai chưởng áp nhau, mồ hôi hóa thành hơi nước mờ mờ bốc lên.

Ngọc Linh theo dõi, biết rằng nội lực của hai người đều đã vần chuyển đến mức cao nhất, sinh tử chỉ còn cách nhau trong gang tấc, bất giác sợ cồn ruột, thầm oán trách Tiêu Lãnh: “Làm cách gì chẳng được, lại đi giở lối đánh đôi bên cùng chết ấy ra?”

Bạch Phác kỳ thực cũng chẳng dễ chịu gì, tuy đã khiến Tiêu Lãnh bệnh tình tái phát, phần nào chiếm được thượng phong, nhưng cứ thế mãi thì đến lúc cuối, dù Tiêu Lãnh sức cùng lực tận, nhưng bản thân y cũng chẳng khá khẩm hơn là bao, Nghĩ vậy, y căng mắt quan sát tình hình đối phương, bỗng liếc thấy Ngọc Linh đang cố sức nhúc nhích di chuyển về phía mình, y giật thót: “Con ranh!”

Ngọc Linh biết trận đấu đã đến lúc khẩn yếu, tuy bị trói, nhưng chỉ cần húc được đầu vào Bạch Phác, làm tăng ngoại lực tác động lên cơ thể y, chân khí y sẽ loạn, lúc ấy Tiêu Lãnh thừa cơ đẩy nội lực sang, Bạch Phác không mất mạng cũng trọng thương. Nàng vừa xê dịch vừa nghĩ bụng: “Để ta húc chết cái tên xấu xa nhà ngươi!”

Bỗng nhiên, nhận ra khí xanh trên mặt Tiêu Lãnh đang từ từ biến thành màu tím, khóe miệng lại ứa máu, Ngọc Linh hoảng hồn: “Hỏng rồi, nội công của anh ấy sắp tản mát rồi.” Nhìn lại mình còn cách Tiêu Lãnh khá xa, nước mắt vòng quanh, nàng gọi to:

- Sư huynh, cố gắng giữ đi, em đến giúp anh đây!

“Rốt cục, cô ta vẫn giúp sư huynh, vẫn giúp người Mông Cổ!” Văn Tĩnh nhói lòng, đương do dự xem có nên tụt xuống ngăn cản nàng không, bỗng thấy một bóng đen nháng lên trước cửa chùa. Đoan Mộc Trường Ca xuất hiện. Quan sát tình hình hai người, lão ta mỉm miệng cười, vừa nhặt Hải Nhược đao vừa nói:

- Bạch tiên sinh, hà tất phải giằng co với hắn, để tôi giúp ông!

Ngọc Linh kinh hoàng chửi:

- Đồ vô liêm sỉ, lợi dụng cái khó của người khác, đúng là hạ lưu…

Nàng chưa dứt lời, ánh lam đã lóe sáng. Đoan Mộc huơ đao đâm vào thắt lưng Tiêu Lãnh. Bạch Phác than thầm: “Không ngờ tên gian ác này phải chết uất ức như thế…” Đang mải nghĩ, y bỗng thấy bụng dưới nhói đau, đưa mắt nhìn xuống, gặp ngay nụ cười nanh ác của Đoan Mộc Trường Ca.

- Ngươi…

Y chỉ thốt được một tiếng, máu đã ồng ộc tuôn ra khỏi miệng, phun đầy lên mặt Tiêu Lãnh. Nội lực Tiêu Lãnh tràn sang, đẩy khắp tứ chi bách hài của y. Hệt như diều đứt dây, Bạch Phác bật ngửa ra sau, đập lưng lên con sư tử đá trong đại điện, mềm oặt người ngã bệt xuống.

Mọi việc xảy ra đột ngột quá, Tiêu Lãnh, Ngọc Linh và Văn Tĩnh đều sững sờ. Một lúc lâu sau, Tiêu Lãnh quệt máu trên mặt, nhìn Đoan Mộc Trường Ca, siết chặt nắm tay, sát khí đằng đằng, chậm rãi hỏi:

- Ta và y giao đấu công bằng, tại sao ngươi lại đánh trộm?

Đoan Mộc Trường Ca không đổi sắc mặt, bỗng nhiên nói mấy câu xì xà xì xồ, Văn Tĩnh nghe như vịt nghe sấm. Tiêu Lãnh sững người:

- Ngươi… ngươi biết tiếng Mông Cổ…

Ngọc Linh cũng ngạc nhiên vô cùng.

- Đúng – Đoan Mộc Trường Ca cười khành khạch – Ta vốn dĩ là người Mông Cổ, năm xưa phụng mệnh Oa Khoát Đài Đại hãn làm nội gián, thâm nhập nước Tống. Đáng tiếc Đại hãn mải dẫn binh sang tây, ta sống ở Nam triều, thực không có đất dụng võ…

Nói tới đây, lão đưa mắt nhìn bầu trời xanh nơi xa, mặt thoáng buồn:

- Hai mươi năm, hai mươi năm rồi đấy! Bao nhiêu cỏ chăn đã khô, bao nhiêu dê cừu đã sinh sôi trên thảo nguyên, hai mươi năm… Ta chờ đợi biết bao khổ sở!

Tiêu Lãnh thả lỏng nắm tay, trầm giọng nói:

- Hành tung của Hoài An vương cũng do ngươi tiết lộ phải không? Tại sao lại sai be bét, làm ta uổng hơi tốn sức thế?

- Sai? – Đoan Mộc Trường Ca cười khẩy – Cái gã ở Thần Tiên độ là thật đấy, Hoài An vương hiện nay chỉ là một thằng ngốc giả mạo mà thôi.

- Giả ư? – Tiêu Lãnh thở phào – Thảo nào trông nó rất quê mùa.

Ngọc Linh kinh ngạc lẩm bẩm:

- Chàng không phải là thiên tuế?

Đoan Mộc Trường Ca xác nhận:

- Đúng đấy, đều do mưu mẹo của Bạch Phác. Tên đóng giả kia là một thằng bé nhà quê tình cờ gặp, tôi thấy nó ngơ ngơ ngẩn ngẩn, bèn kệ nó cải trang… Hà – Lão cười nhạt – Sớm muộn gì cũng bại lộ thôi, nếu trước trận tiền có người nhận ra thì quân Tống còn suy sụp nặng nề hơn nhiều so với việc biết tin Hoài An vương chết từ trước, tại Bạch Phác cả. Hừ, cái tên Song tuyệt tú tài này tự phụ thông minh, thực ra là đào hố chôn mình, ngu không thể tả.

Nói rồi, chừng như đắc ý, lão phá lên cười ha hả.

Hết sức khinh miệt những trò mưu mẹo gian trá ấy, Tiêu Lãnh lạnh lùng hừ mũi. Đoan Mộc Trường Ca nín cười, vuốt râu nói:

- Hiện nay hai bên giao binh đang đến hồi gay go, Bạch Phác chết đi, thành này không còn ai là đối thủ của anh nữa, anh cứ thả sức mà hành động. Tên oắt con giả mạo kia chả bõ bẩn tay, nhưng mấy kẻ như Vương Lập, Lý Hán Sinh, Lữ Đức, Lâm Mộng Thạch thì nhất quyết không thể tha được. Mấy tên đại tướng đó chết rồi, thành Hợp Châu chỉ còn cái vỏ mà thôi.

Lão ta nói tiếng Hán đã quen, mấy câu này cũng nói bằng tiếng Hán, Văn Tĩnh nghe thấy phát run, suýt nữa ngã nhào từ trên cây xuống. Đầu óc rối bời, hai thái dương phập phồng đập, gã tự nhủ: “Nếu thế… nếu thế… cha ta chẳng phải đã chết uổng hay sao, bách tính trong thành chẳng phải…”

Đoan Mộc Trường Ca liếc mắt, nhìn thi thể đầy máu của Bạch Phác, nhủ thầm: “Dù ngươi giỏi võ công hơn ta rất nhiều, nhưng cuối cùng cũng không địch nổi ta một chữ Nhẫn. Tới lúc nhà Tống bị phá, đại quân Mông Cổ theo giang ngạn xuống đông, ôm trọn Giang Nam phồn hoa, lão phu sẽ trở thành đại công thần hạng nhất.” Nghĩ tới chỗ đắc ý, nhìn xác Bạch Phác, lão lại cười ha hả. Bỗng liếc thấy một đốm nhấp nhánh, Đoan Mộc Trường Ca sáng mắt, vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ: “Tấm lệnh phù sao lại ở đây? Có nó rồi, Tiêu Lãnh giết hết đại tướng, ta thừa nước đục thả câu, thành Hợp Châu không đánh cũng hạ được.”

Lão chồm tới, đá hất Bạch Phác lên.

Tiêu Lãnh tuy đối đầu với Bạch Phác, nhưng hiếu võ thành tính, ba lần giao phong đã nhận biết trình độ của địch thủ, cũng thấy đôi phần mến tiếc, huống hồ lần này Đoan Mộc đến giúp, y thắng chẳng vẻ vang gì, nay lão ta còn quấy nhiễu xác chết, y không nhịn được quát lên:

- Ngươi làm gì vậy?

Đoan Mộc Trường Ca cười:

- Tôi xem hắn chết thật chưa?

Nói rồi lão cúi lom khom, dứt lấy tấm Cửu Long ngọc lệnh nơi thắt lưng Bạch Phác.

“Y bị ngươi đâm một đao, lại bị nội lực của ta chấn vỡ lục phủ ngũ tạng, làm gì có chuyện sống… Ố!” Tiêu Lãnh bỗng biến sắc, nhận ra nét mặt Đoan Mộc Trường Ca hết sức kỳ dị. Vừa khiếp sợ vừa phẫn nộ, mắt lão chằm chằm nhìn xuống ngực, ở đó, một cánh tay đẫm máu đâm xuyên thấu ra lưng.

Cổ họng phát ra những tiếng òng ọc, người mềm oặt, Đoan Mộc Trường Ca đổ nhào xuống mình Bạch Phác.

Bạch Phác dốc sức bảo vệ tâm mạch, đợi để đánh một đòn cuối cùng trước khi chết. Xuất thủ rồi, toàn thân tức thì buông lỏng, y thở hộc một tiếng, nhắm mắt tắt nghỉ.

Thấy y kiên cường như vậy, Tiêu Lãnh thở dài, im lặng một lúc, sau đó nhặt đao cắt dây trói cho Ngọc Linh. Cô gái chồm dậy, xoa bóp cổ tay, ngượng nghịu lên tiếng, vốn định nhận sai, nhưng cuối cùng chỉ thốt được mấy từ:

- Sư huynh, em…

Tiêu Lãnh cười buồn:

- Sau này em đừng tự tung tự tác nữa là được.

Y móc ra cái bình ngọc mỡ dê, uống hai viên Huyết Ngọc Hoàn Dương đan, xong ném cái bình sang cho Ngọc Linh:

- Em cũng uống mấy viên đi. Ta phải chạy đằng này có tí việc, sẽ về sớm thôi. Em cứ ở đây chờ ta.

- Việc gì?

- Giết người! – Tiêu Lãnh nói dứt câu, người đã ra khỏi cửa.

Ngọc Linh đương cầm cái bình ngẩn ngơ, chợt nghe thấy sau lưng có tiếng động, nàng ngoái đầu nhìn, trông thấy một người mặc áo xanh đang đứng chắn trước Bạch Phác, vẻ mặt phức tạp.

- A! – Ngọc Linh vui mừng lao đến đấm gã – Cái đồ giả này, thế mà dám lừa em.

Văn Tĩnh lắc mình, tránh khỏi nắm đấm của nàng, lạnh lùng nói:

- Đừng có làm phiền tôi!

Trước vẻ lãnh đạm của gã, Ngọc Linh ngẩn người:

- Mình giận gì vậy?

- Tôi – Văn Tĩnh dằn lòng ngoảnh mặt đi – Tôi… tôi không muốn gặp cô nữa.

Tưởng như sét đánh ngang tai, Ngọc Linh sửng sốt. Nàng đưa tay sờ trán gã, dịu dàng hỏi:

- Mình ốm hả?

Văn Tĩnh không dám nhìn nàng, né đầu lùi ra sau. Ngọc Linh lại hiểu lầm:

- Ngốc quá! Em thích là thích chính con người mình, dù mình có là Hoài An vương hay không, tình cảm của em với mình vẫn không thay đổi.

- Nhưng… nhưng cô là người Mông Cổ! – Văn Tĩnh căm uất bảo – Đêm qua, cha ta đã chết dưới tay người Mông Cổ các ngươi, ta… ta không thể thích cô được nữa. – Câu cuối này, gã buông ra hết sức khó khăn.

Ngọc Linh sững sờ:

- Em là em, người ta là người ta…

- Cô từ bỏ sư huynh được chăng? – Văn Tĩnh cười nhạt – Cô từ bỏ sư phụ được chăng?

Ngọc Linh nghe vậy, bất giác ngẩn người.

- Em… em không biết nữa. – Nàng lẩm bẩm.

Văn Tĩnh vùng bước lên, hung dữ nhìn nàng:

- Cô có chịu bỏ sư huynh không, có chịu bỏ sư phụ không?

Trước bộ dạng dữ dằn của gã, Ngọc Linh cảm thấy tủi thân vô cùng. Chẳng biết làm thế nào, thình lình nàng giậm chân bảo:

- Em bỏ hay không là việc của em, mình đừng có giở cái kiểu hung hăng ấy ra ép em, em… em sẽ cho một trận đấy!

- Được, được lắm! – Văn Tĩnh tái mặt, lùi ba bước, run giọng bảo – Tôi chẳng qua chỉ là một thằng nhà quê nghèo khổ, còn cô là đồ đệ, là sư muội của bao nhiêu nhân vật tai to mặt lớn, tôi nào dám ép cô. Coi như tôi chưa nói gì cả, cô… cũng hãy coi như chưa hề quen tôi… - Mắt đỏ hoe, gã quay đầu lấy tấm Cửu Long ngọc lệnh bên thắt lưng Bạch Phác, nắm đến nóng sực trong tay, hai giọt nước mắt nhỏ xuống tấm áo lốm đốm máu của Bạch Phác.

- Khốn kiếp! Ngươi… ngươi thật vô lý! – Ngọc Linh không kìm nổi, lệ tuôn ròng ròng như chuỗi hạt đứt dây.

Văn Tĩnh ngửng mặt lên, không nhìn nàng, bước vùn vụt ra khỏi chùa.

- Đồ khốn – Ngọc Linh cuống quýt, muốn níu gã lại nhưng cảm thấy có phần không ổn, bèn gọi – Mình đi đâu đấy?

Văn Tĩnh cứ lẳng lặng bước, bỗng một bóng người lạng tới trước mặt.

Ngọc Linh đứng đó, giàn giụa nước mắt nhìn gã.

- Mình… - nàng mới thốt được một tiếng, Văn Tĩnh như cơn gió, lại đã lướt vụt qua bên cạnh.

- Mình thật nhẫn tâm! – Tiếng thút thít ai oán vọng theo, Văn Tĩnh nghe mà nát ruột, những muốn ngoảnh lại khóc rống lên, nhưng nhớ tới cảnh cha chết thảm, trái tim liền trở nên sắt đá.

Rời khỏi cổng chùa Tàng Long, gã đi thẳng về phủ Thái thú ở phía đông thành. Trong phủ nhộn nhạo tiếng la hét, một binh sĩ lảo đảo lao ra, kêu gào:

- Bớ người ta! Có kẻ sát nhân!

“Mình đến muộn rồi ư?” Tim trĩu nặng, Văn Tĩnh nhảy lên bờ tường. Trông thấy phía xa có một bóng đen đang vùn vụt lướt sang phủ Kinh lược, đoán chừng Lý Hán Sinh đã lành ít dữ nhiều, nhưng không còn thời gian tra xét nữa, gã băng mình đuổi theo. Đằng sau binh sĩ gào thét váng trời, bắn tên tống tiễn, áng chừng tưởng gã cũng là thích khách. Văn Tĩnh không dừng chân, lật tay hoặc bắt hoặc gạt, tên chệch hướng, lướt qua mình gã, ghim lên mái nhà. Binh sĩ ở dưới trố mắt nhìn.

Văn Tĩnh vừa chạy vừa lo sốt vó. Chưa đến phủ Kinh lược, mùi máu tanh nồng đã xộc vào mũi, gã vượt qua bờ tường. Trước mặt ngổn ngang xác chết.

“Thằng này thật càn rỡ.” Văn Tĩnh kinh hoảng: “Ngang nhiên chém giết, đánh thẳng vào trong rồi.”

Gã nhảy qua các tử thi, co cẳng chạy. Trong phủ vũ khí chạm nhau chan chát. Bỗng có tiếng gào khản đặc vọng ra, đoán chừng ai đó lại táng mạng dưới Hải Nhược đao, Văn Tĩnh cuống quýt không kịp vòng qua cửa, bèn nhảy đại lên mái nhà. Trước sảnh là một cảnh tơi bời hỗn loạn. Mười mấy thị vệ gục ngã. Lâm Mộng Thạch và Lữ Đức không thấy đâu. Vương Lập mình mặc khôi giáp, một vết đao loáng trên ngực, xuyên thấu áo sắt, đâm thẳng vào giáp mềm bên trong, tuy chưa chạm đến thịt da nhưng lực đạo quá mạnh, hất văng ông ta đi. Vương Lập húc vào tường, mồm ứa đầy máu, vịn tay chật vật xê dịch, tìm đường tháo thân.

Bốn tên hào kiệt Xuyên trung ngày thường theo hộ vệ Vương Lập hiện đang quần thảo với Tiêu Lãnh. Văn Tĩnh đưa mắt ngó quanh, vừa nhìn lại thì thấy ba trong số họ đã đổ gục, chỉ còn Lưu Kình Thảo cố gắng chống đỡ. Tiêu Lãnh đánh giết tới lúc hăng máu, ánh thép chớp chớp, bóng đao mịt mù, hắn xáp vào Lưu Kình Thảo rồi tách ra thật nhanh. Họ Lưu lảo đảo lùi lại sau, máu nhuộm đỏ áo, cánh tay nắm Tùng Văn kiếm đảo một cái trên không rồi văng ra ngoài một trượng. Tiêu Lãnh bước tới, đao quang chói ngời. Lưu Kình Thảo mặt trắng nhợt, bất giác nhắm mắt than:

- Thôi rồi!

Tiêu Lãnh sắp sửa kết liễu đối thủ, bỗng nghe đằng lưng có tiếng rít tựa ám khí, y lập tức bỏ Lưu Kình Thảo đấy, khoa chân rùn người, vạch đao chém về phía sau, chỉ gặp gạch ngói tơi bời, bụi cát li ti mù mịt. Trong màn bụi, một bóng áo xanh thấp thoáng xẹt đến gần, tựa hồ lao tới gấp quá nên đứng không vững, tâm trạng dường hoang mang quá nên tay khua loạn xị, người đó phóng vù vào màn đao của Tiêu Lãnh, nhìn ra thì đúng là đang thi triển Nhân tâm hoàng hoàng1.

Nhân tâm hoàng hoàng ngoài vụng trong khéo, dựa vào cái rối rắm để thủ thắng. Tiêu Lãnh nhận thấy chưởng lực ào ạt, hết lớp này tới lớp khác đổ sang dồn dập, nhất thời không định rõ được bản lĩnh của địch thủ, đành vận dụng thân pháp né tránh, vạch đao theo những xoáy tròn liên tiếp nhau để yểm hộ toàn thân, song vẫn bị một đạo chưởng phong quét qua thắt lưng, gây tê ở Tiếu Yêu huyệt.

Y lắc lư lùi lại, nhận ra Văn Tĩnh, vừa ngạc nhiên vừa tức giận, bắt đao quyết hét lên:

- Ra là ngươi à! Đến đúng lúc lắm!

Hải Nhược đao chạy xè xè như cánh ong, sử chiêu Phần diệt thiên địa2, một chiêu trong Tu La Diệt Thế đao. Đao ảnh lồng lộng tựa lửa hỏa ngục chầm chậm cuốn đi, nó cuốn tới đâu, đất trời tan cháy tới đó.

Văn Tĩnh, tâm trạng bình thản, tư thế thong thả, thần trí trải rộng, nắm trọn mọi thay đổi dù nhỏ nhất xung quanh. Khi Hải Nhược đao cuốn đến nơi cũng là lúc gã lặn vào cảnh giới huyền ảo của Kính tâm thức, chân nhẹ bỗng, hai cánh tay đánh như quay tơ, đầu ngón tay vạch lên, phát ra những tiếng ken két lạ lùng, nhẹ nhàng đẩy vào vùng đao ảnh mênh mang. Tiêu Lãnh cảm thấy mỗi lần xuất đao, Hải Nhược lại nặng thêm một chút, chưa chạy hết chiêu, đao đã muốn tuột tay, y bàng hoàng tự nhủ: “Thằng nhóc ghê thật, dùng bộ pháp để giảm nhuệ khí ta, dùng chưởng phong dẫn dụ đao thế ta, thực sự không thể xem thường.”

Vốn dĩ không biết lùi bước trước thách thức, nay bị võ công của đối thủ khơi dậy ngạo khí, y hú lên dữ dội, đao pháp chợt biến, từ Phần diệt thiên địa chuyển sang Khí đoạn Tu Di, chiêu này chỉ gồm một đao, đao thế hết sức rõ ràng thần tốc, thoáng trông không có gì kỳ lạ, nhưng gồm thâu công lực một đời của người sử đao, người và đao hợp nhất, như dùng uy lực của thần Tu La xẻ lìa dãy Tu Di hùng vĩ.

Khí đoạn Tu Di gần như là chiêu thức không thể kháng cự, uy lực mạnh yếu đều phụ thuộc vào công lực của người sử đao. Khi Tiêu Lãnh xuất chiêu, đao phong loang ra hơn năm thước, đao khí sắc bén như muốn cắt nát vạt áo đối thủ, Văn Tĩnh gấp rút lùi lại hơn một trượng, đao khí càng mạnh, khiến gã toàn thân nổi gai ốc, suýt tắc thở, chỉ đôi chút chậm chân, đao phong như chớp giật đã bức tới gần, muốn chẻ gã làm hai.

Bỗng đâu một thanh đoản đao từ mé bên lướt tới, nước thép xanh óng nháy loạn xạ. Keng một tiếng rõ to, thế đao của Tiêu Lãnh thoắt chững lại, người vừa tham chiến cũng không chịu nổi kình lực vô song của y, đánh rơi đoản đao, tay rướm máu. Nhưng một thoáng trùng trình đó đã đủ phá vỡ đệ nhất sát chiêu trong Tu La Diệt Thế đao. Khí đoạn Tu Di thực chất lợi hại vô cùng, song chẳng khác nào tát ao mò hết cá, không chừa cho địch nhân lối thoát, nhưng cũng bít kín đường lui cho mình, người sử đao dồn hết khí lực vào đao, toàn thân tựa quả trứng bị bóc vỏ, dứt một chiêu mà không khống chế được đối thủ, nếu gặp phải người cao cường như Công Dương Vũ, tất nhiên sẽ bị đối thủ thừa cơ đánh vào chỗ yếu hại, chết không có chỗ chôn. Năm xưa Tiêu Thiên Tuyệt giết bao nhiêu người bằng sát chiêu này, nhưng khi truyền thụ cho Tiêu Lãnh, lại nói:

- Chiêu này đã nhập ma đạo, không thể dùng bừa.

Văn Tĩnh tập trung thần trí ngự địch, chớp lấy khoảnh khắc Hải Nhược đao chững lại, gã lập tức nương thế phản kích. Bàn chân vốn dĩ di chuyển như ý, vận dụng Tam tam bộ đến mức cực diệu, lúc này gã khẽ lắc mình, áp sát mũi đao của Tiêu Lãnh, tiến đến nhanh như chớp, khép song chưởng sử xuất Tam tài Quy nguyên - chiêu thứ ba trong Tam tài chưởng. Chiêu thức rõ ràng, không mảy may màu mè tiểu xảo, nhưng chẳng khác nào cung cứng trương căng bắn ra mũi tên sắc nhọn: thiên thời – địa lợi – nhân hòa, khí của tam tài đều hóa vào một đòn Quy nguyên, dội thẳng lên ngực Tiêu Lãnh.

Hứng một chưởng ấy, Tiêu Lãnh lảo đảo, giật lui đến hơn một trượng, y vẩy đao để lấy lại thăng bằng, khuôn mặt lộ vẻ kinh hãi và nghi hoặc ghê gớm, ngó trân trân vào khúc đao gãy xanh rờn trước mặt. Còn Văn Tĩnh trụ lại, phóng mắt nhìn ra một nơi gần đấy. Ở nơi họ cùng nhìn đến, Ngọc Linh đang đứng sững, mắt nhìn lên trời. Trong chốc lát, ba người cùng đứng yên tại chỗ, không nhúc nhích, mặc gió lạnh hun hút lật tung vạt áo. Khóe miệng Tiêu Lãnh ứa máu, máu chảy xuống tấm áo đen, thấm ướt khoảng ngực.

- Vì sao? - Tiêu Lãnh nuốt ực ngụm máu dâng đầy trong miệng, nhìn Ngọc Linh, hỏi bằng giọng khản đặc – Vì sao vậy?

Ngọc Linh đỏ lựng mặt, giật lùi trước ánh mắt buộc tội của y, rồi lặng thinh, nhìn sang Văn Tĩnh với vẻ âu yếm, mắt chứa chan tình ý êm đềm. Đến kẻ mù cũng nhận ra hàm ẩn trong ánh mắt đó. Tiêu Lãnh sững sờ hồi lâu, vừa đau lòng, vừa phẫn nộ, bỗng bật cười sằng sặc, chuỗi cười chạm đến vết thương nơi ngực, máu tươi trào ra khỏi miệng, song nỗi đau lòng còn dữ dội hơn nhiều, trái tim tan nát, y lảo đảo chực khuỵu ngã.

- Em yêu hắn? – Nhìn Ngọc Linh, y cười sầu thảm – Em yêu hắn ư?

Đã đến nước này rồi, Ngọc Linh cũng chẳng bẽn lẽn làm gì nữa. Nàng bặm môi, gật đầu, mắt đỏ lên, dịu dàng nói:

- Sư huynh! Làm anh bị thương, lòng em đau đớn lắm. Có điều, anh giết ai khác thì thôi, nhưng anh giết anh ấy, em… em không thể để yên. Dù bị sư phụ xẻ da lóc thịt, em cũng không thể giương mắt nhìn anh hại anh ấy… - Nói tới đây, sực nhớ ra mình hết lòng vì người ta như vậy, mà cái kẻ oan gia ấy lại đối xử nhẫn tâm với mình dường kia, nàng không nén được tủi thân, hai hàng lệ lặng lẽ tuôn xuống.

Tiêu Lãnh thần trí đã mê sảng, Ngọc Linh nói gì, y không còn nghe thấy nữa, nỗi ghen hờn ngùn ngụt như lửa, càng tích càng dày, mau chóng biến thành một luồng oán độc, cảm thấy cả thiên hạ này đều đáng giết. Y hằn học nhìn Văn Tĩnh, hai mắt tóe lửa. Nhận ra vẻ hung tàn quái gở ấy, Ngọc Linh thốt lên: “Nguy tai!” Nàng chưa dứt lời, Tiêu Lãnh đã bổ nhào đến Văn Tĩnh.

Văn Tĩnh dịch chân, xòe chưởng quét tới. Tiêu Lãnh né tránh, bồi trả một đao. Đao qua chưởng lại, hai bên đấu thêm một chặp nữa. Tiêu Lãnh thương cũ chưa khỏi, vừa rồi lại hứng một đòn Tam tài Quy nguyên, tạo nên thương mới, chưa đến mười chiêu, ngũ tạng đã nóng rực như lửa đốt, đao pháp chậm dần. Văn Tĩnh nhân cơ xẹt tới, tống một chưởng vào lưng y, Tiêu Lãnh loạng choạng, ngã văng ra hơn năm thước. Y chống đao dậy, máu chảy ròng ròng khỏi miệng, biết mình không còn là đối thủ của Văn Tĩnh nữa, bất giác cười chua chát. Ngọc Linh nhìn cảnh ấy, lòng đau như cắt, khóc nói:

- Sư huynh! Đừng đánh nữa mà, anh em mình đi đi!

- Ta không phải sư huynh cô! – Tiêu Lãnh vằn mắt, gầm gừ tiến về phía nàng, bộ dạng như con sói đói muốn ăn thịt người.

Văn Tĩnh lắc mình tới chắn trước mặt Ngọc Linh. Đúng lúc ấy phía xa dậy tiếng binh mã. Lệ sa như mưa, Ngọc Linh quỳ xuống van vỉ:

- Sư huynh! Em xin anh!

Nước mắt lăn trên nền đá xanh, chảy thấm xuống những kẽ trũng.

Tiêu Lãnh nhìn dấu lệ trên đất, hơi hơi tỉnh, lòng mang máng hối hận: “Vì sao ta lại đối xử với nàng thế này? Dù nàng sai đến đâu, ta cũng không nên đối xử với nàng như thế.” Thương và yêu dâng trào trong tim, sát cơ tạm thời lắng xuống, y cười buồn, điểm đao tung mình lên mái nhà.

- Chớ để hắn thoát!

Từ phía sau, Lưu Kình Thảo kêu lên yếu ớt và kinh hãi, dợm chân toan đuổi theo. Ngọc Linh bèn băng đến chắn đường.

- Tránh ra! – Văn Tĩnh quát.

- Mình… - Ngọc Linh rớm lệ - hãy bước qua xác em đã.

Văn Tĩnh nhìn thây chết đầy đất, nghiến răng quạt chưởng tới. Nào ngờ Ngọc Linh cứ đứng trơ trơ, chẳng đỡ chẳng tránh. Vung chưởng tới cách ngực nàng ba tấc, Văn Tĩnh nhói lòng, rũ tay xuống. Lúc ấy binh sĩ đã ùa vào phủ, vây hai người vào giữa.

- Không được vô lễ! - Lâm Mộng Thạch rẽ đám đông bước lên, lướt mắt qua thảm cảnh xung quanh, cau mày, quỳ một gối xuống lạy – Mạt tướng đến cứu giá muộn! Xin thiên tuế giáng tội.

Văn Tĩnh lặng thinh. Ngọc Linh nhìn gã rồi quay mình đi ra. “Keng!” Quân sĩ hoành đao thương chặn đường.

- Để… - Văn Tĩnh chắp tay sau lưng, ngửa mặt lên trời thở dài – Để cô ấy đi!

Đao thương thu lại, chừa ra một lối nhỏ, Ngọc Linh chậm rãi bước, thân hình run run, đi xa dần giữa hai hàng dài binh khí.

- Kinh lược sứ trúng một đao, chạm tới lục phủ! – Lưu Kình Thảo nhịn đau, bắt mạch cho Vương Lập. Lúc ấy mặt Vương Lập đã vàng như nghệ, hai mắt nhắm nghiền, hôn mê từ lâu rồi.

Lâm Mộng Thạch biến sắc, chực nói lại thôi. Văn Tĩnh nhìn sang y, mắt lóe sáng:

- Lâm thống chế muốn nói gì cứ nói đi!

Tiếng trống lẫn với tiếng hò la như triều dâng âm âm vọng tới. Lâm Mộng Thạch nhăn mặt:

- Chúng tiến quân bằng cả hai đường thủy bộ. - Y gục đầu. - Lại công thành nữa rồi!

Khóe miệng Văn Tĩnh rịn ra một nụ cười méo mó:

- Ông lên trước đi. Ta theo ngay đây!

Gã nói bằng giọng bình tĩnh đến nỗi Lâm Mộng Thạch thấy gai cả người, y cúi đầu lui ra.

Văn Tĩnh thả lỏng nắm tay, phủi bụi đất trên mình. Nhiệt huyết bỗng đâu bừng bừng, toàn thân nóng sực.


oOo


Vận xong bộ giáp tỏa tử giát vàng, Văn Tĩnh khoác thêm tấm áo choàng thêu mãng xà màu tím, tấm áo tung lên nhè nhẹ theo cử động. A hoàn bưng đến chiếc khôi bạch ngọc nặng trĩu, Nguyệt Thiền đón lấy, giúp Văn Tĩnh trùm lên mái tóc đen nhánh. Văn Tĩnh nhìn vào gương đồng, theo dõi chiếc khôi ngọc từ từ sụp xuống, tưởng chừng trong đó chứa đựng cả ngàn vạn sinh linh thành Hợp Châu.

- Thiên tuế! – Nguyệt Thiền dịu dàng nhắc – Xong rồi.

Văn Tĩnh nhắm mắt, rồi lại mở bừng, ánh nhìn sáng rực, lộ vẻ kiên nghị lạ thường.


oOo


Trên trời, đạn pháo tên bắn đan ngang dọc, tiếng dây cung bật khô khốc khiến màng nhĩ người ta lùng bùng.

Dưới thành, quân Mông Cổ hệt lúa mạch trong vụ gặt thu, gặt rạp vạt này lại đến vạt khác, đốt trụi tốp này lại đến tốp khác, như sóng đại dương vỗ không ngừng nghỉ vào tường thành kiên cố.

- Thiên tuế! – Lâm Mộng Thạch, vai cắm nguyên một đoạn tên gãy, máu nhuộm đỏ một bên giáp sắt, nghiến răng nói – Hôm nay quân Mông Cổ chỉ tiến không lui, khí thế khác hẳn ngày thường, tựa như mất trí cả lũ!

Văn Tĩnh lặng thinh, chăm chú nhìn xuống chiến trường mờ sắc máu. Thình lình, quân Mông Cổ la rầm trời, mấy chục tên lính lách được qua một chỗ hổng trên hàng phòng thủ đối phương, lập tức xông vào lầu thành, múa binh khí vù vù hết sức kiêu dũng, đón nện quân Tống tơi bời. Lâm Mộng Thạch cả kinh biến sắc, chực cắt người lại vây chắn, đúng lúc ấy, Văn Tĩnh đã lướt đến như con đại điểu, vung tay nắm lấy bối tâm một người ném văng đi. Một tên lính Mông khác quét thương tới, Văn Tĩnh nghiêng mình tránh rồi nắm ngay lấy cán thương, mượn lực đối phương lăng hắn quay vòng, quét ngã liền sáu kẻ địch, kế đó lại lật tay phải ra sau, ánh kiếm lạnh giá kéo theo một màn mưa máu, hắt cái đầu với khuôn mặt còn nguyên nét kinh hãi của một viên Bách phu trưởng xuống khỏi thành. Nên biết, khi Văn Tĩnh thi triển Tam tam bộ thì cũng là lúc gã biến phạm vi bốn mươi lăm bước xung quanh thành lãnh địa tung hoành của mình.

Quân Mông Cổ nhìn lên tường thành. Trông thấy một bóng người ẩn hiện như ma quỷ, liên tục hất người bên mình rơi xuống rào rào, họ nhất loạt thét lên kinh hoàng, nghe điếc cả tai.

Ngay lập tức, Bá Nhan tế ngựa xông ra phát tiễn liên châu. Một lượt mười mũi tên bay vùn vụt về phía Văn Tĩnh. Văn Tĩnh lòng sáng như gương, dùng thần trí ngự địch, không cần nhìn, nhanh như chớp dịch chuyển liền sáu bước trước-sau-trái-phải, tránh được sáu mũi tên, còn bốn mũi thì dùng trường kiếm gẩy đi. Bốn mũi tên thuận thế bật lên cao, găm thành một hàng trên rầm thành.

Bắn mười mũi không trúng phát nào, Bá Nhan vô cùng kinh ngạc, gò ngựa nín lặng. Quân Tống đã khốn đốn nhiều ngày vì Thần Tiễn tướng quân, nay thấy thế đồng loạt cất tiếng reo hò, sĩ khí dâng cao. Phía Mông Cổ thì ỉu xìu, thế tấn công cũng giảm sút. Chỗ hổng lập tức được bít lại.

Văn Tĩnh vẩy kiếm cho ráo máu, tách sĩ tốt thành hai hàng, giơ kiếm lên trước gió, vận khí đan điền nói to:

- Hôm nay đánh một trận. Thành còn người còn! Thành mất người mất!

Quân sĩ đứng trên cao dưới thấp đều nghe rõ mồn một. Tất cả cùng khuất phục trước uy thế của Văn Tĩnh, cất tiếng hô vang:

- Người còn thành còn, sống chết với thành!

Sóng âm như cơn lốc tràn đi xa, vang vọng giữa núi Ba sông Thục, ngân nga mãi không dứt.


oOo


Lá cờ tiết lông trắng chầm chậm tiến lên, Mông Ca ngửa đầu nhìn:

- Đứa nào thế kia? – Ông ta hỏi.

Một viên thư lại người Hán lễ phép thưa:

- Hoài An Vương ạ!

- Hơ! – Mông Ca nói – Nó đấy ư? Cái tên miệng còn hơi sữa mà cũng có chút bản lĩnh nhỉ! Truyền chỉ của trẫm, phá được thành rồi, nhất định phải bắt sống kẻ ấy, trẫm muốn tự tay chặt đầu nó!

Đoạn ông ta giơ tay, gầm lên:

- Nổi trống!

Tiếng trống gấp gáp trỗi dậy. Mưa máu tỏa lên đầy trời.


oOo


Những cỗ chiến thuyền khổng lồ đâm sầm vào nhau trên sông, sáu chiếc tàu to tướng của quân Tống bị thuyền lầu Mông Cổ theo dòng xuôi xuống đâm ngay giữa mạn, thủng một lỗ, nước tràn vào ồ ồ, lính thủy nhao nhao nhảy khỏi thuyền hòng thoát thân. Cung thủ Mông Cổ xả tên như mưa, nước sông loang máu.


oOo


- Thiên tuế! – Tiếng tên lính truyền lệnh vang lên hổn hển – Thủy quân Mông Cổ mạnh quá, Lữ Đô đốc không cự được.

Văn Tĩnh đưa mắt nhìn ra phía sông chốc lát rồi nói:

- Không cần chống cự nữa, cứ để nó tiến!

Tên lính truyền lệnh lộ vẻ nghi hoặc.


oOo


Ngẩn người một lúc lâu, Lữ Đức xem chừng sực hiểu, gật đầu bảo:

- Báo với thiên tuế, ta đã rõ rồi.

Trước sức tấn công của thủy sư Mông Cổ, hạm đội Tống triều trở nên chệch choạc. Sử Thiên Trạch dẫn người dồn đuổi đám tàn quân. Lưu Chỉnh theo dòng xuống, áp sát dần cửa sông Hợp Châu, kê nỏ pháo bắn bùm bùm vào cửa.

Bỗng nhiều người rú lên chói tai. Trên đầu thành, Phá sơn nỗ đã hãm chờ rất lâu bắt đầu khai hỏa, đá tên bắn xuống, mỗi đợt sáu phát, thuyền chiến Mông Cổ trúng tên vỡ toang, cảnh tượng hỗn loạn. Lữ Đức kéo tốp tinh binh sống sót thoát khỏi đám loạn quân, phối hợp từ xa với nỏ pháo trên thành, điều động ba trăm chiến thuyền qua lại ngang dọc giữa trận thế Mông Cổ tựa như vào chỗ không người. Sử Thiên Trạch đành bỏ cuộc truy đuổi, dốc sức cứu viện. Đôi bên đại chiến chừng hai canh giờ, Lữ Đức mới rút lui. Thủy sư Mông Cổ tổn thất nặng nề, tàu chiến vỡ mất sáu phần mười, mười cỗ thuyền lầu3 chìm cả, Lưu Chỉnh bị một mũi tên nỏ xuyên qua bắp đùi, buộc phải lùi thủy quân lên thượng du.

Mông Ca chửi bới Sử Thiên Trạch thậm tệ. Cân nhắc một lúc, ông ta quyết định tập trung bộ binh đánh mạnh vào cửa bắc. Văn Tĩnh thấy vậy bèn hạ lệnh cho hai ngàn khinh kỵ theo cửa nam chạy ra ngoài, đánh vu hồi vào sườn Mông Cổ, dùng cung cứng nỏ mạnh tấn công khiến kẻ địch trở tay không kịp.

Mông Ca chẳng ngờ quân Tống còn dám công kích, gấp rút hạ lệnh cho năm nghìn quân A Tốc4 nghênh chiến. Quân A Tốc là đội kỵ binh do Mông Ca đưa từ thảo nguyên miền nam Nga La Tư tới đây, tiến lui thần tốc, tinh nhuệ dũng mãnh, song quân Tống chỉ cốt quấy nhiễu, chiếm được chút ưu thế là lập tức vòng qua thành rút về. Quân A Tốc đuổi đến cùng. Tới cửa đông, trên thành đã sắp sẵn tên cứng đá nặng, thế là, hỏa pháo hỏa tiễn, con lăn đá vần cùng trút xuống, người hét ngựa hí nhốn nháo, đội kỵ binh tóc vàng mắt xanh mình vận giáp sắt thương vong nặng nề. Toán khinh kỵ đang bỏ chạy cũng ngoái lại bắn cung xối xả, quân A Tốc luống cuống vô cùng, vội vàng thoái lui, kiểm điểm nhân số thì đã mất đến ba phần mười, sĩ khí cũng vì thế mà giảm hẳn.

Mông Ca nổi cơn lôi đình, thay đổi trận pháp, cắt hai đội, mỗi đội một vạn người phòng thủ hai cánh, còn đích thân mình vẫy cờ tiết lông trắng đốc thúc tám đội, mỗi đội một vạn người, luân phiên tấn công cửa bắc. Đại quân như sóng lớn cuồn cuộn chảy về phía nam, lớp này chưa lặng, lớp khác đã trào lên, thay nhau xung kích, lính canh cửa bắc tử thương thê thảm, tường thành đá nhám như đã biến thành một cái thớt, binh sĩ hai bên tiến lui dịch chuyển trên đó, để lại hàng đống xác người nát nhừ.


oOo


Một viên tướng khẽ báo:

- Thiên tuế, con lăn và đá bắn gần hết rồi.

- Tạm dừng đi! - Văn Tĩnh gạt mồ hôi lẫn máu trên trán, thấp giọng gọi – Lâm Thống chế! Lữ Đô đốc!

Lâm Mộng Thạch và Lữ Đức tiến lên đợi lệnh. Văn Tĩnh nghiêm nghị nói:

- Quân Thát người đông thế nhiều, sĩ khí mạnh mẽ, cần phải tước dần khí thế của chúng đi. Các ông mau cùng ta tuyển lấy tám trăm tinh binh, bốn trăm cung thủ, bốn trăm đao thủ, nấp trên đầu thành, tạo thế lưới giăng. Sau đó, ta trỏ cờ lệnh chỗ nào thì các ông để hổng chỗ ấy, cho quân Thát đánh vào, lưới vây giăng sát chỗ hổng… - Mắt sáng quắc, gã nhìn thẳng mặt hai người – Các ông làm được chứ?

Lữ Đức và Lâm Mộng Thạch chưa nghe đến dạng trận pháp như thế bao giờ, ngập ngừng bảo:

- Ngộ nhỡ…

- Hiện thời thắng bại chỉ trong gang tấc mà thôi. – Văn Tĩnh cắt ngang – Hoàng đế Thát đã dốc hết vốn liếng đánh một canh bạc, dùng xa luân chiến pháp kéo dài cuộc tấn công này, chi bằng thử dùng cách của ta, đã là đánh bạc thì làm gì có chuyện không mảy may sơ sảy… – Ngừng một lúc, gã hỏi – Thế nào, các ông có điều binh được không?

Hai người bị khích, đồng thanh đáp:

- Tất nhiên!

- Hay lắm! – Văn Tĩnh giơ cờ lệnh, trầm giọng nói – Hãy xem hiệu lệnh của ta đây!

Gã chầm chậm nhắm mắt, trút bỏ hết tạp niệm, mường tượng quân Mông như mũi đao của Tiêu Lãnh, tuy thiên biến vạn hóa, nhưng gã đã nắm được cái chấm nhoay nhoáy ấy rồi.

Không còn bị tên và đá uy hiếp, đại quân Mông Cổ lại rục rịch công thành.

Mông Ca sáng mắt:

- Sắp phá được rồi!

Văn Tĩnh bắt đầu phất cờ, một khoảng rộng chừng trăm thước giãn ra trên hàng phòng thủ.

Mũi tấn công sắc bén nhất của đại quân Mông Cổ là nhóm Phong Nhận lập tức trèo vào lầu thành, đồng đội phía dưới hoan hô rầm trời, song mấy chiến sĩ anh dũng còn chưa kịp xung sát, đã thấy bên đối phương tên nhô ra tua tủa, rồi loạn tiễn như mưa, đao quang như tuyết, thi thể và đầu người rơi lộp độp xuống đoàn quân dưới chân thành. Chỗ hở lập tức bít kín.

Chưa đến nửa canh giờ, người Mông Cổ lại khai mở được một quãng rộng độ hai trăm thước, binh sĩ chen chúc đổ về đó.

- Cung hỉ hoàng thượng, phá được Hợp Châu rồi! – Quần thần quỳ tâu rồi xưng tụng - Vạn tuế!

Mông Ca chực cười lớn, xảy đâu toán binh sĩ trèo thành lại rơi xuống như mưa, người thì bị tên xuyên thấu xương, người thì chết ra quỷ không đầu. Mông Ca đương vui vẻ lại nổi giận:

- Chuyện gì thế kia?

Chưa nói dứt, đã thấy chỗ hổng được lấp kín.

Cứ như thế mấy lần, đại quân Mông Cổ tổn hại nặng nề. Văn Tĩnh chuyên trỏ cờ đến những nơi tập trung nhiều tướng sĩ kiêu dũng nhất của bên địch, dần dần lính Mông Cổ đâm chờn, rất nhiều người tiến đến sát chân thành rồi mà không dám trèo lên nữa. Văn Tĩnh thừa cơ ra lệnh trút con lăn và đá cối xuống, quân Mông Cổ tức thì rục rịch muốn lùi, tám vạn người đùm đề xô đẩy, lộn xộn bát nháo hết cả.

Mấy lần tưởng thắng cuối cùng lại thua, Mông Ca nổi giận đùng đùng, thúc chân vào bụng ngựa. Trục Nhật vô cùng thông minh, hiểu ý chủ nhân phóng vụt ra, đám tùy tướng không ngăn cản kịp.

Mông Ca phi đến dưới thành, vung roi ngựa quật sĩ tốt. Những hàng lính đang ngần ngừ chưa quyết, ăn phải roi đều không dám lùi xuống nữa, tiếp tục liều chết tiến lên, đối mặt với tên với đá.

Thấy đối phương bỗng chốc khôi phục sĩ khí, Văn Tĩnh ngạc nhiên vô cùng, bèn chăm chú quan sát thật kỹ, nhận ra một tướng quân Mông Cổ vận y giáp hoa lệ đang tế ngựa khua roi, phóng tới vèo vèo, thần uy lẫm lẫm. Đại quân gặp ông ta đều rú lên bài hãi, tránh rạp sang hai bên như cỏ ngả trước gió. Bá Nhan đang đứng đằng xa cũng trông thấy, tái mét mặt, huơ trảm mã đao dẹp đám sĩ tốt xung quanh, phi về phía chủ.

Văn Tĩnh phất lệnh kỳ. Phá sơn nỗ lại khởi động, rít lên những tiếng chói tai, tên đá chứa kình phong bật theo hướng Mông Ca.

Đại hãn Mông Cổ chợt cảm thấy buốt óc, vội khiển ngựa tránh, song Phá sơn nỗ một loạt bắn đến hai mươi mũi tên, vừa dày vừa gấp, sức mạnh như phiến đá nặng trăm cân nhằm mặt xô thẳng tới, Mông Ca không tránh kịp, đành giật cương gấp, con thần câu lập tức tung vó chồm dậy, hứng cả loạt đá vào ngực, chết ngay tại chỗ. Mông Ca cũng bị xung lực cực lớn hất văng đi xa năm trượng, lộn một cái ngã chúi đầu xuống đất, chưa hết đà, lăn thêm năm thước nữa mới dừng lại được.

Bá Nhan phi bở hơi tai, tim gan như muốn vỡ. Tới nơi, y móc chân vào bàn đạp, nhoài mình xuống ôm lấy Mông Ca, tế ngựa ra khỏi trận. Văn Tĩnh thấy thế, lệnh cho Phá sơn nỗ phát loạt thứ hai, khối đá khổng lồ vù vù đuổi theo. Bá Nhan khua trảm mã đao chém lại sau, đá tóe lửa vỡ tung, đại đao tuột tay bay mất, hổ khẩu cũng rách toạc, Bá Nhan ngã ngựa, lăn một cái rồi guồng dậy ôm Mông Ca chạy thật nhanh. Khi loạt tên phá núi thứ ba căng lên, y đã vượt ra ngoài tầm bắn.

Tiếng chiêng trỗi dậy, vang vang khắp trời Hợp Châu. Đại quân Mông Cổ rút mạnh về như nước triều. Văn Tĩnh tiến tới trước, chăm chú nhìn theo lá cờ tiết trắng biến mất dần nơi xa, bỗng cảm thấy mệt mỏi vô cùng. Gã buồn bã thở dài, chống trường kiếm xuống đất, ngửa mặt nhìn lên bầu trời nhuốm đỏ rồi từ từ quỳ gối. Ánh dương rơi rớt chảy qua bộ khôi giáp vằn vện của gã, hòa làm một với sắc máu đọng loang lổ. Máu lăn ròng ròng theo sống kiếm, thấm xuống kẽ đá, biến mất tăm…

“Kết thúc rồi!” Gã thầm gọi: “Bố ơi!”


oOo


Đại tướng, mưu thần, phi tử, lũ lượt quỳ đợi bên trong và bên ngoài trướng vàng. Mông Ca nằm trên thảm lông, cạnh gối là phi tử người Sắc mục5 đẹp nhất của ông ta. Một viên đại phu Mông Cổ đang tỉ mỉ xoa lên người Đại hãn thứ thuốc cao có hòa sữa dê, thuốc cứ xoa xong lại bị máu từ trong chảy ra xối bật đi. Bỗng đâu một luồng gió tà rờn rợn từ ngoài trướng thi thút luồn vào, đèn đóm thoạt tắt thoạt sáng, chập chà chập chờn, Mông Ca khẽ rùng mình, mở bừng hai mắt. Viên đại phu giật thót, lỡ tay đánh đổ thuốc xuống đất, chất thuốc trắng sữa nhoe nhoét hết cả ra.

Mông Ca bải hoải, mắt nhìn không rõ, chỉ thấy nhờ nhờ những bóng người, há miệng muốn nói nhưng không ra tiếng. Lần lần trông thấy đồng cỏ Nãi Man mênh mang nơi quê nhà, bò dê đông đúc, sông Oát Nan sóng vỗ ì oạp, uyển chuyển chảy đi; trông thấy vầng mặt trời sắp lặn đỏ ối trên bình nguyên Nga La Tư, từng đoàn chiến binh nhìn về trời tây cất tiếng hát khúc ca du mục hùng tráng; trông thấy núi non trung nguyên nhấp nhô; trông thấy đầu người Sắc mục chất thành đống trên dặm đường chinh chiến… Hãn nghĩ tới đoạn khoái ý, tiếng cười sin sít bật ra khỏi cái cổ bị trẹo. Bỗng đâu, cảnh sắc trước mắt vụt thay đổi, những đồi xương trắng, những sông máu đỏ, thi thể la liệt chân thành Hợp Châu. Mông Ca thảng thốt, buốt lộng óc, tưởng chừng có một tảng đá từ trên trời rơi xuống, càng lúc càng lớn, tựa ngọn Thái sơn đè bẹp đầu mình, toàn thân run rẩy dữ dội, cổ họng rít lên khò khè thảm thiết.

Mọi người nghe mà sởn gai ốc, một phi tử đánh bạo kê tay đến gần mũi Mông Ca, bỗng tái mặt ngất đi. Đại phu kinh ngạc chạm lên bàn tay nhợt nhạt của vị vương hãn, thấy tay lạnh ngắt, y rùng mình.

Ngoài trướng, gió lạnh quay cuồng, đèn đuốc trong trướng ngả nghiêng mấy lần, cuối cùng phụt tắt.


oOo


Văn Tĩnh uống hết chén rượu mạnh, nhìn theo Vương Lập thương nặng chưa khỏi đang được thuộc hạ dìu đi, nhớ lại chiến sự hôm nay, tưởng như chuyện đã xa lắm rồi, chợt nghe thấy Lữ Đức vỗ bàn ca:

“Tóc dựng mái đầu,

Lan can đứng tựa.

Trận mưa vừa dứt

Ngóng trời xa uất hận kêu dài

Hùng tâm khích liệt.”

Các tướng hòa theo:

“Ba mươi tuổi cát bụi công danh,

Tám ngàn dặm dầm sương dãi nguyệt

Chớ lỏng lơi kẻo nữa bạc đầu

Ích gì rên xiết.”

Lâm Mộng Thạch nối vào, giọng rền như chuông, mạnh mẽ hùng hồn:

“Mối nhục Tĩnh Khang chưa gội hết,

Hận thù này bao giờ mới diệt

Cưỡi cỗ binh xa, giẫm Hạ Lan nát bét”

Các tướng hòa theo, khí thế hào hùng như nuốt cả sơn hà:

”Đói, vùng lên ăn thịt giặc Hồ

Khát, cười chém Hung Nô uống huyết.”

Đại sảnh lắng lại một thoáng, mọi người cùng nhìn Văn Tĩnh, ra ý đợi gã ca câu cuối cùng: “Rồi đây giành lại cả giang san. Về chầu cửa khuyết.” 6 nhưng Văn Tĩnh chỉ cười buồn, lẳng lặng nâng chén uống cạn.

- Thiên tuế! – Lữ Đức giơ cao chung rượu – Lần này trở về Lâm An, nếu có việc gì dùng đến Lữ mỗ xin cứ nói. Lữ mỗ dẫu gan óc lầy đất cũng không dám từ nan.

Văn Tĩnh chưa lên tiếng, Lâm Mộng Thạch đã chen lời:

- Nói năng kiểu gì thế? Còn gọi là thiên tuế nữa ư? Hoài An vương dụng binh như thần, thiên tài trời sinh, đáng làm mười phiên vương, mười thiên tuế7.

- Đúng đấy! – Các đại tướng nhao nhao rộ lên – Hôm nay đã trừ được giặc ngoài, chỉ cần vạn tuế ra lệnh, chúng thần sẽ kéo sang đông, vào Lâm An, đoạt lấy long đình…

Đại sảnh ồn ào như chợ vỡ, mọi người không uống cũng say, mê man khoái chí.

Đêm đã khuya, tiệc rượu tàn. Văn Tĩnh ngồi kiệu trở về Trúc Hương viên, chợt nghe thấy phía xa có tiếng nhốn nháo vọng lại, càng lúc càng rõ, dần dần nhận ra là tiếng than van ai oán dậy đất, kẻ khóc chồng, người hờ con, người gọi cha… Một nỗi bi thương xói lòng, Văn Tĩnh không nén nổi, bật khóc rấm rứt, lệ tuôn lã chã.


oOo


Đêm đen như mực, bóng một con ngựa gầy lòa nhòa ẩn hiện, tiếng hí thê thiết vọng lên trời khuya. Ngọc Linh ngồi trên mái lầu thành Hợp Châu, gió hắt cuốn m

Tài sản:


[Xem tất cả tài sản]
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
quynhmi
bài viết 30 Aug 09 12:20
    Gửi vào: #9
Ông Trùm Thành viên thứ: 242878 Tiền mặt: 98917050
Group Icon Tham gia: 1-March 09 Được cám ơn: 83
Nhóm: Members Bài viết: 1113 No Yahoo Messenger
Chính truyện – Hoa Vũ Giang Nam

Quyển 1 – Thiên Cơ Quyển

Chương 8 – Cô vân xuất tụ1



Gió nồm hây hẩy, trời đã vào vụ cuối xuân. Ven sông, hoa đào tàn dần, phủ xuống dòng Hán giang2 mênh mang, thong thả trôi về nam.

Xuân tàn con nước những đau lòng

Chống gậy tiêu dao đứng bãi sông

Bông liễu điên cuồng bay trước gió

Hoa đào khinh bạc chảy xuôi dòng.

Đỗ Phủ sáng tác bài Tuyệt cú mạn hứng3 này khi đang sống khốn quẫn ở đất Thục, bài thơ nhắc chuyện hưng vong nhân thế, ngụ ý được mất khó lường. Người ngâm thơ là một nhà nho già, lúc ấy đương đứng bên sông, đôi mấn tóc pha sương, khuôn mặt răn reo. Sau lưng ông, một cánh đào rụng xuống như bông tuyết, theo sóng dập dềnh trôi đi.

Một người áo đen đã đứng ở đấy từ rất lâu rồi, nghe mấy câu thơ bèn liếc mắt nhìn những đóa hoa tươi tắn phủ đầy cây, bỗng nóng nảy thốt:

- Cái hoa rừng chết tiệt! Bông nào bông nấy toe toét, cười trông phát ghét!

Rồi y phất tay áo. Trên tán cây bên cạnh, hoa đào rụng xuống như mưa, một con chim giật mình lao vụt lên trời, bay vòng vòng kêu chiêm chiếp.

Nhà nho nghe động tĩnh ngoái lại, thấy gần đó có một vật đen nhẻm ngồi chồm hỗm, đôi mắt xanh lè to tướng. Ông ta hoảng hồn, tưởng mình hoa mắt bèn dụi dụi rồi nhìn lại thật kỹ thì không thấy vật ấy đâu nữa. Đương ngơ ngác, bỗng ông ta rú lên, chúi người quay mình đi, không may đang đứng ven sông nên hụt chân ngã xuống, nước ngập đến thắt lưng.

Từ rừng hoa đào đi về phía tây chừng hai trăm bước là đường cái quan, bên đường có một quán trọ, tuy rất đơn sơ song cũng rộng rãi. Một gã chạy việc đương đứng ngáp ngoài quán, nhìn về hướng tiếng rú đằng sông, cười nhạt:

- Lão Diệp lại lên cơn rồi, chẳng để cho người ta nghỉ nữa.

Một gã khác cười:

- Chắc là nhớ vợ. Các cụ dạy rất đúng: học trò dài lưng tốn vải. Tọng cho lắm chữ nghĩa vào, có bà vợ cũng không kham nổi!

Đám phục vụ bận bịu suốt sáng, vốn dĩ rất mệt, nhưng nghe những chuyện gió trăng ấy đều phá ra cười, hào hứng hẳn lên. Một người tủm tỉm bảo:

- Kể cũng kỳ, lão Diệp tuy già xấu nhưng lại có cô vợ khá đỏm, dạo xưa tôi từng gặp rồi. Bây giờ cô ả đã đi theo giai, chẳng biết thằng cha nào được hưởng phúc!

Một gã giễu:

- Cái phúc ấy thì giống hèn mọn nhà anh có tu mười kiếp nữa cũng không với tới, đừng có mơ!

Gã nọ bị một phen tẽn tò giữa bao nhiêu người, đỏ bừng mặt cười khẩy:

- Xin chú! Lại chuột chù chê khỉ hôi. Lòng vả lòng sung cả…

Đương mải nói, bỗng nghe trong nhà thét ra:

- Tiểu nhị đâu, cho thêm mâm rượu nữa nào!

Gã giật nảy mình, vắt cái giẻ lau cáu bẩn lên vai, đổi ngay ra nét mặt vui vẻ:

- Đến ngay đến ngay!

Rồi gã chạy ào đi, lao qua tấm rèm cửa bám đầy những đất vàng. Trên rèm viết bốn chữ lệ “Quán cổ Nghi Thành”.

Trong quán chật ních, không khí hết sức ồn ã. Một người đàn ông râu quăn đón lấy mâm rượu, đặt cạch xuống bàn làm đống bát đĩa lỉnh kỉnh nảy tưng tưng. Gã bày ra hai bát men to, rót đầy rượu, cười bảo:

- Có câu: nể thần nể cả cây đa! Tiếng tăm như Một phong quyền Tiêu Phóng Hạc và Đả đỉnh thần Phùng Khuy mà vừa nhìn thấy danh thiếp của Vân đại hiệp là tỏ vẻ cung kính hết sức, Hàn Tranh tôi đi đưa thiếp cũng được thơm lây… - Nói rồi mặt mày rạng rỡ, gã cầm bát rượu nốc một hơi cạn sạch.

Ngồi bên kia bàn là một người đàn ông gầy gò nhỏ thó, bứt bứt sợi râu cằm:

- Những tưởng sau Hoài An vương, trên đời chẳng còn anh hùng nữa. Lần này Vân Vạn Trình chiêu tập đại hội, kể cũng như điểm thêm một chút hào khí cho thế đạo.

Hàn Tranh lại uống bát nữa, cười bảo:

- La lão ca! Người ta thường nói, anh hùng đời nào chẳng có. Hoài An vương cố nhiên là giỏi rồi, nhưng tôi thấy Vân đại hiệp cũng chẳng kém. Cứ ngẫm mà xem, quân mình đánh Thát đều lấy một chọi mười, mấy nghìn hào kiệt tập trung ở Hợp Châu làm gì không giúp được ông ta tróc thẳng đến sào huyệt giặc? – Hàn Tranh nói vào hứng, lại rót thêm bát nữa, uống ừng ực ừng ực. Tửu lượng gã rất khá, uống liền ba bát mà mặt không đổi sắc.

Người họ La chừng như có tâm sự, gõ gõ năm ngón tay lên cạnh bát, thở dài:

- Hàn lão đệ tuổi trẻ nhiệt tình, thực khiến La Tùng ta ngưỡng mộ. Nhớ dạo ở Hợp Châu, ta cũng từng đánh vài ba trận với quân Thát. Dụng binh trên chốn sa trường phức tạp hơn đơn đả độc đấu nhiều. Ta nghĩ, lính Thát thật sự rất lợi hại!

Hàn Tranh đã uống hơn nửa bát rượu, nghe vậy đặt cạch bát xuống, lớn tiếng bảo:

- La huynh nói làm người ta nản quá. Bao nhiêu năm nay quân Thát giao chiến với Đại Tống, cuối cùng thì sao? Chỉ biết nhìn đất nước tươi đẹp này mà tức nổ đom đóm mắt chứ có gì hơn đâu!

Người họ La cụp mắt, giơ tay mở ngực áo, để lộ một đường sẹo đao đen xì từ chỗ tim kéo xuống đến thắt lưng, cười buồn:

- Hồi ở Hợp Châu có Trấn Nhạc tướng quân Tôn Hạo và Loạn vân thương Ngải Minh, ai trong hai người đó mà chẳng giỏi gấp mười La Tùng này? Về sau ra sao? Tôn huynh chết giữa đám tên bay đạn lạc, Ngải huynh còn thê thảm hơn, cả đời dùng thương mà mất mạng dưới rừng thương. La mỗ lĩnh một đao, nằm liệt giường cả tháng trời, cứu được tính mệnh kể cũng là may lắm…

Tiếng lào xào trong quán hơi dịu đi, mấy chục cặp mắt quay lại nhìn vết sẹo.

La Tùng khép áo, cầm bát rượu uống một hơi, áng chừng tửu khí bốc, hai mắt đỏ ngầu. Hàn Tranh cúi đầu uống rượu, chẳng nói chẳng rằng. Chợt nghe bên ngoài cửa có tiếng tiểu nhị chào mời, ai nấy ngẩng đầu nhìn. Một người đàn ông và một người đàn bà bước vào. Người đàn ông cao gầy, trán rộng mày dài, mắt sáng miệng tươi trông rất dễ gần. Người phụ nữ nước da trắng mịn, nét mặt thanh tú, tuy vận áo thô trâm cỏ nhưng vẫn rõ ra nhan sắc trời sinh, tay dắt một đứa bé tóc xõa, mặt hồng hào, mắt đen láy đang nhìn lướt rất nhanh khắp mặt mọi người.

Người phụ nữ xinh đẹp liếc quanh, cau mày bảo:

- Đương gia, ở đây bẩn thỉu quá! Đổi chỗ khác đi.

Người đàn ông gật đầu:

- Được!

Họ toan quay ra thì đứa nhỏ cong môi kêu:

- Không! Chân con mỏi dừ rồi.

Người đàn ông trợn mắt, đứa bé rụt đầu lại:

- Mẹ ơi!

Thiếu phụ xoa đầu nó, cười bảo:

- Được được! Theo ý con, mình không đi nữa. – Rồi ngoảnh sang tên phục vụ, nàng lạnh lùng nói – Sao ngây ra như phỗng vậy? Mau đi dọn một cái bàn cho chúng ta!

Thấy một người đương nói nói cười cười lại có thể trở mặt nhanh thế, gã tiểu nhị ngạc nhiên vô cùng, may mà đã tiếp xúc với bao nhiêu khách từ nam ra bắc rồi, phản xạ ít nhiều cũng linh hoạt, gã liền cười xòa:

- Xin lỗi bà, quán nhỏ người đông, chỉ có cách ghép bàn ghép ghế ngồi thêm… - Đang nói, chợt nhận ra vẻ mặt đe dọa của người phụ nữ, tim gã đập thình thình, giọng yếu hẳn đi.

Người đàn ông khẽ bấm tay vợ, cười bảo:

- Vậy nhờ anh!

Gã tiểu nhị mừng rỡ vâng dạ luôn miệng. Thiếu phụ trừng mắt nhìn chồng, trách:

- Đồ ngốc! Hệt như cục bột ấy, mặc tình người ta nhào nặn, họ nói đông, mình đố có dám nói tây… - Nàng lầm bầm mãi, nhưng anh chồng cứ cười cười, chẳng ừ chẳng không .

La Tùng đã chăm chú quan sát người đàn ông từ khi họ bước vào quán, lúc này nghe anh ta bị cô vợ oán trách kỳ kèo, y bèn vịn bàn đứng dậy, chỉ tay vào chiếc ghế dài bên cạnh mình, tươi cười mời:

- Nếu tôn giá không chê, xin đến đây ngồi.

Người đàn ông sáng mắt, cười đáp:

- Đa tạ ý tốt của huynh đài, chúng tôi đành quấy quả một chút! – Đoạn dắt vợ con tới gần, thong thả ngồi xuống.

Hàn Tranh uống đã hơi nhiều, kẻ cả giơ bát rượu lên bảo:

- Hàn Tranh bất tài, hiệu xưng Phiên giang thủ. – Xong trỏ La Tùng giới thiệu – La huynh đây biệt hiệu La Đoạn thạch, luyện tập thứ công phu ít có. Hiền khang lệ xem chừng cũng là con nhà võ, chẳng hay cao danh quý tính là gì?

Người đàn ông liếc thiếu phụ, hơi lúng túng, vòng tay đáp:

- Hảo hán đừng khách sáo! Tên tuổi chúng tôi thấp kém thực không đáng nói ra.

Hàn Tranh nghe giọng điệu lấp liếm, rất không bằng lòng:

- Người này hành sự dút dát, chán quá!

Gã cười ha hả, cầm bát rượu dốc vào họng. La Tùng nhìn người đàn ông, lòng nghi hoặc: “Trông bề ngoài thì nhang nhác, khổ nỗi năm đó thân phận mình thấp hèn, chỉ được ngó từ xa có hai lần, cũng không rõ lắm.”

Hàn Tranh lại uống cạn hai bát rượu to, chuếnh choáng đưa mắt nhìn cặp vợ chồng nọ:

- Nói như vậy tức là, không phải huynh đài đến đây để tham dự “Quần Anh minh4”?

Người đàn ông lắc đầu. Đứa bé thình lình chen ngang:

- Quần Anh minh có biểu diễn gấu chó phải không? – Nó nói nhanh quá, ông bố không ngăn kịp, ra ý bực bội. Đứa bé lè lưỡi rúc vào lòng mẹ.

Hàn Tranh thoạt tiên không phản ứng gì, nhưng chỉ chốc lát là biến sắc, đập bàn tức giận:

- Mày nói gì vậy? Quần Anh minh là nhóm họp của các anh hùng hào kiệt Đại Tống, ai bảo là biểu diễn gấu chó? – Gã vừa nói vừa dậm một chân lên ghế đẩu. - Nếu ba người nhà các ngươi không giải thích cho rõ ràng, e rằng hôm nay không ra được khỏi cái cửa này.

Người đàn ông hoảng hốt, vội vã van lơn:

- Hảo hán bớt giận! Trẻ con nói năng linh tinh, chỉ là đùa thôi mà.

Nghe giọng y nhát chết quá, Hàn Tranh dịu nét mặt, nhưng trong bụng càng thêm khinh bỉ.

Thiếu phụ vuốt má con, cười hỏi:

- Tiêu nhi! Người lớn bàn luận, trẻ con sao lại nói leo?

Đứa bé bĩu môi:

- Tại mẹ đấy thôi? Mẹ chả bảo toàn gấu chó nện nhau còn gì!

Hàn Tranh không nhịn được nữa, đứng thẳng dậy, mắm môi mắm lợi quát:

- Con mẹ mày! Thằng khỉ nói lại tao nghe! Ai là gấu chó?

Người đàn ông cuống cuồng toan kéo đứa trẻ lại đánh, nhưng thiếu phụ đã nhanh tay ôm con vào lòng, mắng mỏ:

- Thằng hư đốn dám nói năng bậy bạ, xem ta trừng trị mày thế nào đây! – Đoạn giơ tay tát khẽ lên má nó, nhưng liền đó nàng giãn nét mặt, bật cười khúc khích. Đứa trẻ cũng cười khanh khách.

Ông bố thấy hai mẹ con thông đồng với nhau, chẳng biết làm thế nào, đành đứng dậy vòng tay nói với Hàn Tranh:

- Lời trẻ dại không biết tính suy, mong hảo hán lượng thứ.

Mặt Hàn Tranh vẫn xám xanh. La Tùng vẫy tay cười:

- Thôi nào, trẻ con nói năng có cân nhắc gì đâu, bỏ qua đi!

Hàn Tranh cười khẩy:

- La huynh nói thế là sao? Thằng bé này rõ ràng có ý chửi Quần Anh minh của chúng ta là Cẩu Hùng hội5, phép tắc đâu thế? Con hư bởi cha dong, ngươi làm cha cái kiểu gì vậy? – Gã vừa nói vừa nhoài người sang, dí ngón trỏ vào mũi người đàn ông. Anh ta luống cuống cúi đầu lắp bắp.

Thiếu phụ thấy chồng chịu nhục, dựng đôi mày liễu, toan can thiệp, chợt một giọng khàn khàn cười lên:

- Tổ sư bố con gấu! Sư huynh xem, thế đạo thời nay biến đổi cả rồi, vô duyên vô cớ lòi đâu ra lắm kẻ khốn kiếp như vậy? Rõ ràng là phường nhát chết giá áo túi cơm, lại khăng khăng tự xưng anh hùng hào kiệt, nay chống đây mai phản kia. Ha ha, đúng là hóng gió bắt bóng, theo đóm ăn tàn, mặt trơ như thớt!

Một giọng khác lành lạnh:

- Sư đệ nói chí phải.

Mọi người nhìn theo hướng tiếng nói, thấy trong góc nhà có hai đạo sĩ, một người mặt trắng không râu, một người mặt đen mồm to, mũi khoằm khoằm, chính là người lên tiếng lúc đầu. Tên đạo nhân mặt trắng đang cười hùa theo, đôi mắt hình tam giác nhìn xoáy vào thiếu phụ. Nàng khó chịu, hừ khẽ ngoảnh đi.

Hàn Tranh đương tức đầy một bụng, nghe vậy bước vòng qua bàn, hung hãn hỏi:

- Thằng mọi mũi trâu6, ngươi thử nhắc lại lần nữa xem?

Đạo sĩ mặt đen cầm bát rượu, cười bảo:

- Ông quên mất, gấu chó không hiểu tiếng người. Ông có nói một trăm một vạn lần cũng chưa chắc nó hiểu.

Hàn Tranh nhịn không nổi, chẳng đợi đối phương dứt lời đã nhảy xổ tới, đấm thẳng vào ngực trái hắn ta. Đạo sĩ mặt đen ngồi im không nhúc nhích, chỉ hơi rùn vai tránh khỏi quyền, tay phải vẫn cầm bát rượu đưa lên mồm, thong thả uống.

Hàn Tranh thầm kinh hãi, chuyển quyền thành chưởng giang thẳng cánh tát vào mặt đạo sĩ. Hắn lại giơ tay trái gạt đi, cười hì hì bảo:

- Công phu mèo què của con mà cũng đòi giữ Hương Dương Xú Dương7 cái gì? Hà hà, ông khuyên con nên cuốn gói về quê giữ cho kỹ cái giường của con dâu đi, kẻo bị đứa khác nó ngủ thay mất thì không được dễ chịu lắm đâu… - Hắn vừa cười nói vừa nhẹ nhàng múa tay trái, vô hiệu hóa thế tấn công của Hàn Tranh.

Thấy một kẻ tu đạo mà nói năng tổn đức độc địa như vậy, Hàn Tranh càng tức giận, liên tiếp xuất hiểm chiêu, nhưng đều bị tên đạo sĩ phẩy tay hóa giải. Gã vừa hãi vừa thẹn, rống lên một tiếng thật to, tung liên hoàn cước. Đạo sĩ mặt đen vẫn ngồi nên xoay trở bất tiện, thành ra không cản kịp. Một chân ghế đẩu bị đá gãy rắc. Hàn Tranh xoay người thét:

- Đứng lên ông xem! – rồi lăng chân đá ngang, ba chân ghế còn lại gãy cả.

Ai nấy cho rằng đạo sĩ mặt đen ắt phải đứng dậy, không ngờ hắn cứ ngồi vững như đồng, tay cầm nguyên cái bát, lưng rượu trắng còn lại không một chút gợn, vẫn phẳng lặng như gương. Mọi người kinh ngạc nhìn kỹ thì nhận ra hắn đã xuống tấn, hai chân chống chắc tựa đóng đinh.

Hàn Tranh vừa xấu hổ vừa giận dữ, thầm hiểu đối phương võ công cao hơn mình nhiều quá, song trước cặp mắt chăm chú của bao nhiêu người, đã đâm lao đành theo lao, gã nghiến răng, giơ chân quét ngang hai chân đạo sĩ, nghĩ bụng ông mày thua thì thua, nhưng nhất định phải bắt mày đứng lên. Đang mải nghĩ, bỗng thấy đạo sĩ mặt đen ngửa cổ dốc hết rượu vào họng rồi vung tay phải ném thẳng cái bát vào mặt mình, Hàn Tranh vội vàng né sang trái. Đúng lúc đó đạo sĩ mặt đen lại đá móc chân phải lên, ngực Hàn Tranh thành ra ngửa đón ngay đầu mũi chân hắn. Hứng cú đá nặng như một cú chùy, gã Phiên giang thủ hực lên, bắn vù ra ngoài một trượng, miệng phun máu toe toét, ngất lịm đi.

La Tùng chạy rảo tới đỡ Hàn Tranh, trừng mắt nhìn đạo sĩ mặt đen:

- Bàn không cước?

Tên đạo sĩ đứng thẳng dậy, cười đáp:

- Kể ra ngươi cũng còn có mắt, nhận biết được chiêu thức của đạo gia ta! Thằng họ La kia, ngươi dập đầu lạy ta ba cái, ta sẽ bỏ qua mọi chuyện, nếu không cước này… - rồi nhấn nhẹ chân, nền đá xanh nứt vỡ, hắn cười ha hả - sẽ dần ngươi làm mấy khúc, biến ngươi thành một phiến đá vỡ8 thật sự đấy.

La Tùng nhìn hắn từ đầu đến chân, cười nhạt:

- La mỗ dầu mấy khúc cũng là đá cứng. Còn túc hạ, dẫu nguyên vẹn gấp mười cũng chỉ là bãi phân chó mà thôi.

Mọi người cười ồ. Trên mặt tên đạo sĩ, khí xanh thoáng nổi rồi tan ngay, hắn cười khà khà, rùn người tống quyền phải vào ngực La Tùng. Họ La chuyển mình tránh, bóp lấy cổ tay đối phương, nhưng y chưa kịp hành động gì, quyền trái của đạo sĩ cũng đã tới nơi, cổ tay phải thì giằng về như con trăn ngoắt đầu. La Tùng, vẫn trong tư thế tấn, bị lôi ngay đến trước nắm đấm của tên đạo sĩ, y cả kinh biến sắc, giơ chân đá vào thân dưới hắn ta.

Đạo sĩ mặt đen cười:

- Đến vừa khéo! – Đoạn quay cánh tay. La Tùng hạ bàn không vững, bị hắn ném vù đi. Đạo sĩ mặt đen lắc mình theo, tóm lấy bối tâm La Tùng, cười khẩy – Sư huynh, đỡ này! – rồi hắn khoa tay lẳng La Tùng đi lần nữa.

Đạo sĩ mặt trắng thong thả đứng dậy, giơ tay đón lấy La Tùng, cười hì hì bảo:

- Quả cầu da này liệng sướng thật, ta cũng chơi cho vui.

Trong lúc hắn nói, La Tùng đã lại bay vèo đến chỗ đạo sĩ mặt đen. Đường đường một hán tử mình cao sáu thước như y mà bị người ta đùa nghịch như đồ chơi, thực xấu hổ không để đâu cho hết. Chủ khách trong quán đều cảm thấy bất bình, nhưng khiếp sợ trước võ công của hai tên đạo sĩ, đều không dám đứng ra can thiệp.

Đạo sĩ mặt đen bắt lấy La Tùng, cười lớn:

- Ai bảo con tự xưng hòn đá, ha ha, dùng con chơi cầu cũng khá vừa tay.

Nghe hắn ta nhục mạ, La Tùng giận lồi mắt, bỗng đâu người nhẹ hẫng đi, thì ra lại bị tung sang phía đạo sĩ mặt trắng rồi. Tên đó cười nói:

- Sư đệ, chúng mình chơi xổ số nhé. Ném thằng này đi, ai cướp được trước sẽ không phải trả tiền cơm hôm nay.

Đạo sĩ mặt đen hưởng ứng:

- Trò đó hay đấy!

Đạo sĩ mặt trắng cười hi hi, hất tay, La Tùng liền bay vù ra ngoài quán. Hai đạo sĩ cố ý phô trương, cử động nhanh như chớp lướt đi theo. Song chưa áp lại gần, mắt họ đã hoa lên, ở khoảnh đất bằng phẳng phía trước bỗng mọc ra một người, nhẹ nhàng bắt lấy La Tùng. Chính là người đàn ông nhu nhược đi cùng vợ con ban nãy. Đạo sĩ mặt đen vô cùng kinh ngạc, thình lình lại thấy chân phải căng một cái, thì ra bị ai đó móc chân. Vốn dĩ hắn đương chạy rất nhanh nên mất đà, chân phải hẫng lên phía sau, chân trái choãi về đằng trước, toan đứng thế Kim kê độc lập để trụ vững thân hình, ai ngờ người kia lại thuận thế móc tiếp, lần này thì dụng kình rất mạnh, treo hắn lộn ngược lên rồi rảy ngã.

Cũng may tên này võ công thiện nghệ, đầu chưa chạm đất, hắn đã chống hai tay nhảy ngược trở lại, bộ mặt đen cháy chuyển màu xám đất, nhìn trái ngó phải, đôi mắt tóe lửa. Chợt nghe một giọng trẻ con cười hỏi:

- Mẹ ơi! Dưới đất có xương hay sao ấy nhỉ?

Đạo sĩ ngoảnh nhìn, chính là đứa bé ngồi trong lòng thiếu phụ xinh đẹp. Mẹ nó bảo:

- Tiêu nhi! Con nói vớ vẩn, dưới đất làm gì có xương?

Đứa bé đáp:

- Thế thì lạ thực! Không có xương thì đạo trưởng đen úp mặt xuống đất làm gì vậy?

Trong phòng bỗng lặng đi, rồi tất cả cùng phá lên cười như vỡ nhà. Thiếu phụ xoa đầu con, tủm tỉm bảo:

- Tiêu nhi! Con tò mò quá đấy. Đạo trưởng là người xuất gia, chỉ ăn chay chứ không gặm xương đâu.

Đứa bé lại nói:

- Mẹ chả đã dạy, con cứ coi nó như A Hắc đi cơ mà!

Người xung quanh không nhịn được góp chuyện:

- A Hắc là ai?

Đứa bé cười đáp:

- A Hắc là con chó mực to của nhà cháu, trông đen như đạo trưởng đây.

Mọi người vốn dĩ căm ghét đạo sĩ mặt đen, nghe vậy cùng cười nghiêng ngả. Bộ mặt đen của tên đạo sĩ chuyển sang tím bầm, hắn hộc lên, khép song quyền đẩy về phía hai mẹ con. Thiếu phụ vẫn cười tủm tỉm nhìn con trai, tựa hồ không hay biết gì hết. Anh chồng cau mày, vội buông La Tùng xuống, chạy ào tới giữ tay đạo sĩ mặt đen. Thiếu phụ nhướng mày vẻ sốt ruột.

Bị nắm cổ tay phải, đạo sĩ sử chiêu Phao chuyên dẫn ngọc9, quyền phải lôi về phía sau, quyền trái tống lên phía trước. Nào ngờ kéo kéo đẩy đẩy, đối phương không những không nhúc nhích, mà còn lật chưởng tóm luôn lấy cổ tay trái hắn, tên đạo sĩ không suy tính nhiều, phi luôn Bàn không cước vào người đối thủ. Song hắn vừa giơ chân đã bị người đàn ông dẫm lên bắp vế. Đau muốn chết, hắn định giơ nốt chân trái, bỗng cảm thấy hai luồng nóng ấm từ song chưởng của người đó chảy vào mình, thân thể liền nhũn nhẽo uể oải, không còn chút khí lực nào nữa.

Thấy bạn mình yếu thế, đạo sĩ mặt trắng gầm lên, chạy ào tới, song chưởng êm ru vỗ vào lưng người đàn ông. Chưởng vừa nhanh vừa tàn độc, chưa ai kịp cất tiếng kêu, người đàn ông đã lắc mình dịch chuyển, đổi vị trí với đạo sĩ mặt đen. Đạo sĩ mặt trắng đẩy song chưởng tới nơi, sợ làm sư đệ bị thương, vội thu kình lực, bỗng đâu một luồng nóng ấm từ lưng đạo sĩ mặt đen lại theo chưởng chảy ngược vào người hắn, dòng thẳng đến ngũ tạng. Đạo sĩ mặt trắng cảm thấy gân cốt rã rời. Rồi “bịch bịch”, hai anh em một trước một sau khuỵu gối ngã vật xuống chân người đàn ông.

Thiếu phụ kêu ôi chà, cười nói:

- Nhị vị đạo trưởng đa lễ thế, không sợ đương gia ta tổn thọ hay sao?

Hai đạo sĩ xấu hổ căm uất, khốn thay kinh mạch đã bị khống chế, không sao mở lời được, chỉ biết trợn mắt tức giận mà thôi. Người đàn ông liếc vợ, thở dài, buông chưởng khỏi hai đạo sĩ. Họ giãy giụa muốn vùng dậy, nhưng nội kình đối phương chưa dứt, khiến tứ chi họ mềm nhũn, không thể đứng lên ngay được.

Đạo sĩ mặt trắng nội lực rất khá, nhắm mắt vận khí chốc lát, sau thốt ra một tiếng trầm trầm, đứng dậy, đảo tròng mắt, nhìn đứa bé chăm chăm, cười nhạt:

- Tiểu thí chủ, sư đệ ta đùa bỡn tên họ La chứ đâu có động đến ngươi. Vì sao ngươi thò mặt ra ngáng chân y? Ở đời này cái gì cũng phải có lý của nó, tiểu thí chủ hãy giải thích cho rõ ràng đi.

Mọi người nghe vậy rất kinh ngạc. Vừa rồi hai bên giao thủ quá nhanh, chẳng ai nhìn kịp, chỉ nghĩ thiếu phụ lén ra tay kéo ngã đạo sĩ mặt đen, không ngờ người xuất thủ lại là con trai nàng.

Thằng bé lè lưỡi cười khanh khách:

- Ông đừng đổ oan cho người tốt, tôi bé thế này, làm sao mà ngáng chân hắn được?

Tất cả đều cảm thấy phải lẽ, nhao nhao phụ họa:

- Đúng đó, ngươi đường đường là một hán tử cao bảy thước, tại sao lại vu khống cho một đứa trẻ?

Đạo sĩ mặt trắng tức giận nhìn thằng bé, da mặt từ trắng đổi xanh, từ xanh đổi đen bầm.

Người đàn ông chợt nhướng mày, nghiêm nghị nói:

- Tiêu nhi! Làm thì đã làm rồi, không được trí trá!

Đứa bé bĩu môi, lườm ông bố rồi nói với tên đạo sĩ mặt trắng:

- Ừ đấy! Cái lão mặt đen kia không trêu ghẹo gì ta, nhưng ngươi thì nhìn mẹ ta khiến mẹ ta khó chịu.

Đạo sĩ ngẩn người, mặt thoạt xanh thoạt đỏ. Ông bố nhìn con trai, thở dài, mắt lộ nét buồn.

Thiếu phụ tươi cười ôm con thật chặt, lòng mừng vô hạn: “Chỉ có con là tinh tường, luôn nhận ra tâm trạng của mẹ, giúp mẹ xả giận.” rồi liếc chồng, lại nghĩ: “Cái gã ngốc Văn Tĩnh không ngờ cũng giúp ta sinh hạ được đứa con thông minh tinh quái nhường này. Con thật giống ta, quyết không để người khác bắt nạt.” Nghĩ tới đây, nàng nắm bàn tay nhỏ của con, thầm nhủ: “Thời gian trôi đi nhanh quá, Tiêu nhi đã mười tuổi rồi!”

Cặp vợ chồng ấy chính là Lương Văn Tĩnh và Tiêu Ngọc Linh. Sau chiến dịch Hợp Châu, hai người mua một con thuyền sang đông, mấy tháng sau cập thắng cảnh Lư sơn. Đôi vợ chồng trẻ lên bờ du ngoạn, nhận thấy sơn thanh thủy tú, ngắm mãi không hết. Lúc đó Tiêu Ngọc Linh đã mang thai hai tháng, người đã hơi nặng nề, Lương Văn Tĩnh cho rằng không thể phiêu bạt mãi được nữa, bèn dừng chân ở một cái làng tên là Bạch Thủy Loan dưới chân núi Lư.

Tám tháng sau, Ngọc Linh trở dạ, nào ngờ khó đẻ, dù võ công cao cường nhưng nàng cũng lăn lộn dở sống dở chết. Khó khăn lắm đứa con mới ra, song không khóc không vòi gì hết, chỉ nhắm mắt ngủ, miệng nhoẻn cười. Bà đỡ cù nách, cào lòng bàn chân, thử hết mọi cách, đứa trẻ chỉ cười khanh khách. Ngọc Linh sinh nở tuy vất vả, song nhìn con tươi tắn như vậy cũng cảm thấy bớt khổ sở phần nào, nàng ôm đứa trẻ sơ sinh, lòng ngập tràn thương yêu. Bà đỡ thì lắc đầu quầy quậy, nói rằng chưa từng gặp kiểu cười ấy bao giờ, thật là bất tường, còn kể trong vùng có câu tục ngữ “Cười dữ khóc lành”. Ngọc Linh tính tình nóng nảy, nghe nói năng bậy bạ như vậy tức giận vô cùng, bất chấp mới sinh trong người mệt nhọc, liền chồm dậy xô bà ta ngã ngửa, tay đấm chân đá. Cũng may nàng còn yếu, Văn Tĩnh lại cố sức can ngăn, nếu không chắc bà đỡ đã mất mạng ngay ở đấy rồi.

Văn Tĩnh hết lời khuyên nhủ vợ, lại đền tiền và tiễn bà đỡ, lúc quay về nhà, người đã mệt nhoài. Lần đầu làm cha, nhìn vợ ôm con ngủ, y thấy người lâng lâng như mơ, vui mừng khôn xiết, bất kể nhọc mệt, ngồi giở sách tra điển nghĩ cho con một cái tên thật hay. Nhưng đâu phải lúc nào cũng ước gì được nấy, y càng vắt óc nghĩ, càng không nghĩ ra cái tên vừa ý. Ngọc Linh nghe chồng làu bàu phiền quá, bèn đem họ hai người ghép lại đặt tên con là Lương Tiêu. Văn Tĩnh cảm thấy tên không hay lắm, song nhắc đến cả hai vợ chồng, nên cũng vui vẻ đồng ý.

Thời gian hạnh phúc thấm thoắt trôi, như nước suối trong Bạch Thủy Loan, chảy qua cửa nhà bé Lương Tiêu. Được cha mẹ chăm sóc, thằng bé mỗi ngày một lớn, thông minh nghịch ngợm vô cùng, đuổi mèo đánh chó, chọc gà bắt vịt, làm bà con làng xóm than phiền không ngớt. Mỗi lần Văn Tĩnh định đánh đòn là Ngọc Linh lại bênh con, tính y vốn hiền lành, không nỡ kỳ kèo vợ nên lần nào cũng thở dài cho qua.

Thấy con trai mỗi ngày một tinh quái, Văn Tĩnh cho rằng phải dạy nó học, không chừng biết đọc sách, hiểu lý lẽ, nó sẽ kiềm chế bớt. Ngọc Linh lại nghĩ khác, nàng mang huyết thống Mông Cổ, ưa vũ lực, chỉ muốn con trai giỏi võ, không để ai bắt nạt. Vì vậy khi Lương Tiêu lên bốn, nàng bắt đầu rèn con. Thằng bé có khả năng thiên bẩm, chiêu thức gì cũng thành thạo rất nhanh, chẳng bao giờ phải tập đến lần thứ ba. Ngọc Linh mừng ra mặt.

Hai mẹ con tính tình đều nóng nảy, học hành bất kể tuần tự. Mẹ thì sốt sắng dạy, chỉ mong con trai mau chóng luyện thành, con thì hăm hở học, chỉ mong được mẹ vui mừng ngợi khen. Trong vòng hai, ba năm, Lương Tiêu đã tập tành như thật mọi chiêu thức của phái Hắc Thủy. Ngọc Linh vô cùng hài lòng, thi thoảng lại nắc nỏm khen con trước mặt chồng. Văn Tĩnh hết sức thờ ơ, bởi y nhận ra võ nghệ của Lương Tiêu chỉ thuần hình thức, luận đến nền tảng võ học thì kém xa y lúc bé, mất căn bản như thế, luyện đến đâu cũng chỉ được chút màu mè bên ngoài chứ rất khó thành tài. Tuy hiểu rõ, song không nỡ làm vợ cụt hứng, lại nghĩ con trai bẩm tính hiếu động bướng bỉnh, nay khả năng tầm thường may ra sẽ hạn chế những phiền phức, y chỉ cười, tùy vợ con muốn làm gì thì làm.

Y như rằng, Lương Tiêu nắm được chút võ công, cao bay, thấp chạy, bơi lội dưới nước… ở đâu cũng gây tai vạ; tìm trứng chim, bắt thỏ, mò cá… đều nghiễm nhiên thành thần. Trẻ con trong làng thường ôm tay chân thâm tím đến nhà khóc vạ. Kỳ thực không chỉ bọn chúng sợ hãi, mà người lớn cũng e ngại đứa bé ngỗ nghịch. Hàng ngày Văn Tĩnh đi làm đồng về, việc đầu tiên là xin lỗi chòm xóm, nhức hết cả đầu. Cũng may Lương Tiêu còn nhỏ, chỉ mắc những lỗi lặt vặt, chưa từng phạm tội gì lớn.

Cứ như vậy, Ngọc Linh dạy con ba năm ròng rã, sốt ruột sốt gan cho chóng xong, cuối cùng, dù là đồ đệ của một bậc thầy võ học, cũng đến lúc nàng cảm thấy không dạy nổi nữa, bèn giục chồng truyền Tam tài Quy nguyên chưởng cho Lương Tiêu. Văn Tĩnh bình sinh rất ghét cậy sức nạt người, luôn phản đối các hành động của con trai, nay nghe vợ gợi ý bèn từ chối. Ngọc Linh tức giận vô cùng, làu bàu cự nự nhiều lần, Văn Tĩnh bị thúc ép, cái khó ló cái khôn, liền nghĩ ra một kế. Tam tài Quy nguyên chưởng chuyển hóa từ Cửu cung đồ, tinh vi ảo diệu, chỉ người ham đọc sách và ngộ tính cao như y mới thẩm thấu được. Nói đâu xa, Bạch Phác giỏi võ là thế mà mười mấy năm trời cũng chưa xong phần nhập môn. Lương Tiêu khác hẳn tính cha, bắt chim mò cá thì giỏi nhất hạng, nhưng nhắc tới chi hồ giả dã là vò đầu bứt tai. Văn Tĩnh đã dạy nhận mặt chữ nhiều lần, nhưng nó không tập trung học, cứ buông sách xuống là quên sạch sành sanh.

Bị vợ bức bách quá, Văn Tĩnh dứt khoát tương kế tựu kế, miệng nói truyền thụ võ công, nhưng định bụng sẽ giảng giải các nguyên lý trong Cửu cung đồ. Một hôm, y gọi Lương Tiêu vào phòng, mô tả Tam tài Quy nguyên chưởng, song bỏ qua phần chiêu thức, chỉ nhấn mạnh vào mặt học vấn hàm ẩn trong chưởng pháp.

Y thầm tính, Lương Tiêu một là không học được môn công phu này, hai là, muốn học được thì phải ngoan ngoãn đọc sách để nắm vững mọi lý lẽ sâu xa ảo diệu trong đó. Cứ thế, thuận nước đẩy thuyền, biết đâu có thể dạy con lẽ thánh hiền, đạo nhân nghĩa, từ từ rèn cặp cho thằng bé bỏ hết những thói hư tật xấu, trở về đường ngay.

Lương Tiêu luyện võ từ nhỏ, đã đánh mất nhiều thú vui bình thường của con trẻ. Nó vốn ghét học võ, chỉ vì muốn mẹ vui lòng nên cắn răng chịu đựng. Nay lại đến cha truyền dạy công phu, thực hết sức tức bực, nó ủ rũ đi vào phòng. Văn Tĩnh cố ý gây khó dễ, không đả động gì đến Cửu cung đồ, vừa mở bài đã đưa ra các quy tắc đánh quyền. Lương Tiêu trước nay luyện tập, thường chỉ biết đấm dứ và xuống tấn, chưa từng thấy ai nói còn phải đọc sách vở quỷ quái gì, càng nghe càng rối, thoạt đầu gắng gượng bấm bụng, về sau thấy khô khan không chịu nổi, tai dỏng về phía cha mà mắt thì nhìn chằm chằm lũ chim nhảy nhót trên cây ngoài cửa sổ.

Văn Tĩnh thấy vậy, buồn phiền vô cùng: “Thằng bé này sao chẳng giống ta. Rốt cục mày có phải là con ta không?” Tới đây, sực nhận ra mình nghĩ bậy, có lỗi với vợ, y lập tức tự trách mắng một thôi một hồi, đoạn hỏi:

- Tiêu nhi! Hình như con xem thường lộ chưởng pháp này?

Lương Tiêu gãi đầu:

- Cha ơi, môn ấy có đánh được ai không?

Văn Tĩnh lắc đầu:

- Chưởng pháp này hậu phát chế nhân, là công phu cứu mình và cứu người, không phải đánh người.

Lương Tiêu cười bảo:

- Mẹ dạy tiên hạ thủ vi cường. Ra tay sau thì gặp họa rồi!

Văn Tĩnh nói:

- Tiêu nhi! Con không biết đấy thôi, trên đời có rất nhiều loại võ công, chẳng phải loại nào cũng là tiên phát chế nhân cả đâu. Tam tài Quy nguyên chưởng tuy xuất thủ sau, nhưng không hề thua kém những loại xuất thủ trước. – Ngẫm nghĩ một lúc, y nói – Thế này nhé, võ nghệ con rất khá rồi đúng không? Ta đứng im đây, không động một ngón tay cũng có thể đẩy con ngã.

Lương Tiêu chớp mắt phì cười. Văn Tĩnh cũng cười:

- Con không tin? Nào, con đụng được vào một chéo áo của ta thì kể như ta thua.

Lương Tiêu hiếu thắng thành tính, nghe vậy cười nói:

- Được… - chưa dứt lời nó đã bổ nhào tới, cốt để cha trở tay không kịp, nào ngờ lao vào khoảng không. Lương Tiêu ngước mắt tìm, đã thấy cha thu vạt áo đứng nguyên chỗ cũ, tủm tỉm cười, như thể chưa từng động đậy. Nó rất lấy làm lạ, xốc lại tinh thần, vụt thò tay túm vạt áo Văn Tĩnh.

Lương Tiêu lao đến khá mạnh. Văn Tĩnh khẽ nhích người, trụ chân quay một vòng, nhẹ nhàng tránh đi. Thằng bé vồ trượt, mất đà, tức thì ngã sấp mặt như chụp ếch, lòng rất không phục, bèn chồm lên lần nữa. Văn Tĩnh đã luyện Tam tam bộ tới mức như ý, trong bốn mươi lăm bước, Lương Tiêu không sao chạm được vào bóng y, lại còn bị y tá lực đả lực, hất ngã lên ngã xuống. Bản tính quật cường, càng thua nó càng muốn đánh tiếp, ngã rồi nghiến răng bò dậy, bò dậy rồi ngã, lật quật đến tận lúc trời nhọ mặt người. Ngọc Linh xót con, không kìm được kéo nó lại, dịu dàng bảo:

- Thôi nào thôi nào! Tiêu nhi, hôm nay đến đây thôi, mai hẵng thi tiếp.

Lương Tiêu cả người bầm tím, thẫn thờ một lúc, bỗng lao vụt vào phòng ngủ.

Một lát sau, trong phòng có tiếng nức nở vọng ra, Ngọc Linh nóng ruột mắng:

- Đồ ngốc! Tại sao mình phải đấu thật thế, để nó nắm lấy một lần mình có mất miếng thịt nào không?

Văn Tĩnh đáp:

- Thằng bé này quá hiếu cường, không rèn tính cho nó, sau này gặp phải nhân vật lợi hại thực thì làm thế nào?

Ngọc Linh cáu kỉnh:

- Nếu cần rèn thì tôi sẽ rèn, chả khiến anh phải đa sự! – Rồi bỏ nấu cơm tối, nàng hằm hằm trở về phòng ngủ, sập cửa thật mạnh. Văn Tĩnh ngơ ngác, đêm ấy đành nằm ở phòng khách.

Tinh sương hôm sau, y còn đang mơ màng, chợt nghe thấy có người gõ cửa, bèn khoác áo ra xem, thì chính là Lương Tiêu. Thằng bé không nhiều lời, lôi y ra sân. Nó lùi lại mấy bước và thình lình lao bổ tới:

- Con bắt cha đây!

Văn Tĩnh đành xoay mình tránh. Hai cha con di chuyển giằng co suốt một buổi sáng, Lương Tiêu cố nhiên vẫn ngã, nhưng ngã ít hơn hôm trước nhiều. Văn Tĩnh thầm lấy làm lạ: “Con ta bướng bỉnh nhưng cũng là một đứa nhanh nhẹn thông minh, chỉ một đêm mà đã hiểu ra yếu lĩnh. Ừ, hôm nay đánh ngã nó khó hơn đây!” Nhìn con trai mặt mày thâm tím, y bỗng mềm lòng, cử động chậm lại cho Lương Tiêu tóm được vạt áo, đoạn than thở:

- Tiêu nhi! Con đã thắng, cha thua rồi!

Lương Tiêu bĩu môi:

- Cha cố ý nhường con. Mà con thì muốn học bản lĩnh của cha, con muốn học cái bản lĩnh không động tay mà vẫn đánh ngã được người ta cơ… - Mắt đỏ hoe, nó chực khóc.

Văn Tĩnh rất bất ngờ, sau mừng rỡ vô kể, y vội nói:

- Được! Có điều, cha bảo này, muốn học công phu của cha thì phải chịu khó đọc sách. Con đồng ý không?

Lương Tiêu đáp:

- Miễn là học được bản lĩnh thú vị ấy. Con đồng ý!

Văn Tĩnh vui mừng trong dạ, song gắng làm mặt nghiêm:

- Trước tiên phải học từ cơ bản. Tháng trước làng ta đã mời một vị phu tử đến dạy, nếu con thực tình muốn học, ngày mai bắt đầu cắp sách theo ông ấy.

Lương Tiêu nói:

- Ứ, con muốn học với cha!

Văn Tĩnh bảo:

- Ta còn cày cấy trồng trọt, lấy đâu ra thời gian dạy con đây? Hôm nay ta sẽ báo với phu tử để ngày mai con đi học.

Lương Tiêu hết cách, hôm sau nhăn nhó đến trường làng. Trước khi đi, Văn Tĩnh gọi nó lại, dặn dò cặn kẽ, nào là tôn sư trọng đạo, kính bạn yêu thầy… Ngọc Linh đứng bên nín cười im lặng, thầm nghĩ: “Dại ơi là dại, mình để nó đi học là đã mua phiền chuốc não vào người rồi!” Nàng rắp tâm đợi xem trò vui, nên tạm thời không nói toạc ra.

Lương Tiêu đến trường. Đám bạn học đều đã từng điêu đứng vì nó, đứa cùng bàn thấy nó vào ngồi, lập tức khóc hu hu, nằng nặc đòi đổi chỗ, những đứa khác thì nấp nấp né né, không chịu ngồi cùng. Thầy đồ là người mạn ngoài được mời tới, không hiểu nguyên do, rất lấy làm lạ, sau nhìn Lương Tiêu xinh xẻo ngoan ngoãn cũng có bụng mến, bèn bảo đến ngồi cạnh bàn sách của mình.

Thầy đồ sắp xếp xong chỗ ngồi, liền cầm sách lên giảng bài. Lương Tiêu thoạt đầu rất hứng thú, vốn dĩ cho rằng phu tử sẽ trình bày những kiến thức cao siêu trong Cửu cung đồ, chẳng ngờ tất thảy đều là luân lý cương thường, hiếu nghĩa nhân đức. Nó nghe chữ nọ xọ chữ kia, nhận thấy khác hẳn điều cha nói, nhẫn nại được một lúc rồi lơ đãng dần, buồn ngủ dần trong tiếng đọc bài du dương trầm bổng.

Thầy đồ mải mê giảng, chợt phát hiện ra có ai ngáy pho pho liền cúi xem, Lương Tiêu đang gục mặt trên bàn ngủ say sưa. Ông ta tức thì nổi giận, không nhiều lời, cầm roi vụt thẳng xuống người nó. Thằng bé đương mơ màng bỗng thấy đau nhói, chẳng nghĩ ngợi gì bèn nhảy ngay lên, thi triển tiểu cầm nã thủ cướp lấy roi của thầy giáo, ném toẹt xuống đất. Thầy đồ không ngờ học trò mà dám táo tợn chống lại mình, động cơn lôi đình đùng đùng chửi mắng:

- Đồ súc sinh! Đồ lộn giống! – Ông ta vừa mắng vừa ấn Lương Tiêu xuống, tụt quần nó toan quật cho một trận.

Lúc Lương Tiêu vứt roi đi, thần trí đã hơi tỉnh táo, lòng có phần sợ hãi, nhưng sau nghe thầy giáo mắng mỏ ác miệng như vậy, nó đổi ra phẫn uất. Lão già khốn kiếp này được đằng chân lân đằng đầu, cả gan lột quần mình! Nó bèn nhìn hướng cử động của thầy, rồi theo đúng nguyên tắc đi quyền mẹ dạy, tả thủ hóa giải thế tay lão, hữu chưởng thuận thế móc lên. Thầy đồ tuy một bụng thi thư, nhưng đâu đã học được bài quyền nào, lập tức mất đà, ngã chúi về trước, xô đổ ba cái bàn, ngất lịm đi.

Bọn trẻ con vẫn biết Lương Tiêu ngỗ nghịch, phần lớn đã len lén chuồn ra khỏi cửa ngay khi thầy đồ đánh nó, chạy đi báo với Văn Tĩnh. Văn Tĩnh đang cố làm xong buổi cày sáng, nghe tin kinh hãi đến đờ người, không kịp xỏ giày, cứ để hai ống chân trần lấm bùn chạy một mạch đến trường. Vừa vào cửa đã thấy Lương Tiêu đứng bên bàn, mặt mày hoang mang, thầy đồ thì nằm vật dưới đất, bất tỉnh nhân sự. Trước ánh mắt dữ tợn của cha, Lương Tiêu hoảng sợ vô cùng, toan tìm đường lẩn đi. Lúc Văn Tĩnh tóm lấy định đánh, Ngọc Linh cũng chạy tới nơi, giữ tay chồng lại. Văn Tĩnh không làm sao được, đành thở dài cứu tỉnh thầy đồ, xin lỗi luôn miệng, nhưng hiểu rằng con trai không thể nào ở lại đây được nữa, đành phải dắt về nhà.

Thời Tống tôn ti rất nghiêm, tam cương ngũ thường đã ăn sâu vào lòng người. Lương Tiêu đánh thầy thực là một tội lớn. Phu tử ngã trầy da, vừa đau vừa giận, và hơn hết là mất mặt vô cùng, ông ta nói rõ nếu không trừng trị Lương Tiêu thích đáng thì sẽ bỏ trường mà đi. Bô lão trong làng nhao nhao đến nhà, bắt Văn Tĩnh giao con trai để xử phạt thật nặng trước mặt mọi người. Nhưng Ngọc Linh nói, kẻ nào động đến một sợi lông của thằng bé, nàng sẽ lấy đầu kẻ ấy. Văn Tĩnh tiến thoái lưỡng nan, đành đóng cửa không tiếp khách.

Từ đó trở đi, người làng trở nên lạnh nhạt với nhà họ Lương. Bà đỡ bị Ngọc Linh đánh đòn dạo xưa vẫn ôm hận trong lòng, lúc này thừa cơ phao tin Lương Tiêu là quái thai, lúc mới sinh chỉ cười không khóc. Dân thôn ngày thường bị Lương Tiêu quấy nhiễu đã nhiều, lập tức đồn thổi, dần dần thêu dệt thành chuyện thằng bé là tà ma chuyển kiếp, đến nỗi có người hắt đầy máu bẩn phân tươi vào cửa nhà họ Lương.

Văn Tĩnh ngại vợ con tức giận nên không cho ra ngoài. Bị cầm chân trong nhà, Ngọc Linh rỗi rãi chẳng có việc gì làm, bèn đem tiếng mẹ đẻ dạy Lương Tiêu, kể con nghe những truyền thuyết quê hương, hai mẹ con trò chuyện bằng ngôn ngữ Mông Cổ, lấy đó làm vui.

Một hôm, nhắc đến cảnh khói tỏa sa mạc, mặt trời lặn trên sông10, Lương Tiêu bỗng mơ màng nói:

- Mẹ ơi, người ở đây đã ghét bỏ mình như thế thì mình sang Mông Cổ vậy.

Câu nói vô tình khơi dậy nỗi nhớ cố quốc của Ngọc Linh. Đợi Văn Tĩnh về, nàng bèn giãi bày với chồng. Văn Tĩnh tự nhủ: “Con ta giống tính mẹ nó, ương bướng ưa gây sự, không chịu bó buộc bởi lễ giáo, cứ thế này mãi tất không được người đời dung nạp, sẽ gây ra đại họa… Ừ… chỉ cần nàng và con được sống bình an, không phải uất ức nữa, vất vả cách mấy ta cũng chịu…” Nghĩ đến đây, y xoa đầu con trai, cười hỏi:

- Sa mạc nhiều gió và cát, sống khổ lắm. Con có sợ không?

Lương Tiêu vỗ ngực đáp:

- Con không sợ. Khổ gấp trăm lần cũng thế, mà khổ gấp vạn lần cũng thế!

Văn Tĩnh nhìn Ngọc Linh, thấy nàng nín cười lắc đầu, bèn nói:

- Cũng đành, chúng ta mất chỗ dung thân ở đây rồi. Mẹ con em tính tình như vậy, còn ở Đại Tống ngày nào, tôi còn chưa được sống yên ngày đó. Thôi thì ra sa mạc cho xong…

Lương Tiêu nghe vậy, mừng rỡ ôm choàng lấy cổ cha rồi hí hửng giúp mẹ thu xếp hành lý, chuẩn bị cho chuyến đi xa. Văn Tĩnh rao bán điền sản, từ biệt xóm giềng, dân làng nghe tin, ai nấy vui mừng khôn xiết, thậm chí còn đốt pháo trừ tà. Văn Tĩnh cũng không nói gì, quảy hành lý lên lưng, dắt vợ con nhằm phương bắc mà tiến.


Hết chương 8


1 Trích từ cặp câu: Cô vân xuất tụ, khứ lưu nhất vô sở hệ; Lãng cảnh huyền không, tĩnh táo lưỡng bất tương can. Dịch nghĩa là: Cụm mây lẻ bay ra khỏi sơn cốc, đi hay ở chẳng liên can đến ai. Vầng trăng sáng treo trên trời cao, không dính dáng gì đến sự yên tĩnh hay náo loạn của trần thế.

Cặp câu này trích trong bài “Thái căn đàm” của Hồng Ứng Minh thời nhà Minh, thuộc loại văn đọc để tu tâm dưỡng tính, tương tự U Mộng Ảnh của Trương Trào sau này.

Cô vân xuất tụ ngày nay thường được dùng với nghĩa là tuyệt giao, từ bỏ không màng đến ai hay việc gì nữa.

2 Còn gọi là Hán thủy, là sông nhánh bên tả của Trường Giang.

3 Đây là bài thứ 5 trong chín bài Tuyệt cú mạn hứng của Đỗ Phủ. Bản dịch thơ của Lãng Xẹt Tử.

Phiên âm Hán – Việt như sau:

Trường đoạn giang xuân dục tận đầu

Trượng lê từ bộ lập phương châu.

Điên cuồng liễu nhứ tùy phong khứ

Khinh bạc đào hoa trục thủy lưu.

4 Liên minh của các người hùng

5 Hội những con gấu chó

6 “Mũi trâu” là từ tục chỉ các đạo sĩ, nguồn gốc của cách gọi này đến nay chưa rõ ràng, có người nói do cha đẻ của Đạo giáo hay cưỡi trâu xanh, có người lại nói do cái mũ của các đạo sĩ có cái sừng như sừng con trâu…

7 Hương Dương chắc là địa danh nào đó, tôi vẫn đang tra. Xú Dương là chơi chữ (Hương là thơm, Xú là thối).

8 Danh hiệu của La Tùng là La đoạn thạch bởi y luyện công phu phá đá. Ở đây đạo sĩ chơi chữ.

9 Ném gạch kéo ngọc

10 Dựa ý thơ trong bài Sứ chí tái thượng (Sứ giả đến vùng tái ngoại) của Vương Duy: “Đại mạc cô yên trực, Trường hà lạc nhật viên” (Ngọn khói tỏa trên sa mạc lớn, Mặt trời lặn dần xuống sông dài)

Tài sản:


[Xem tất cả tài sản]
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post
quynhmi
bài viết 30 Aug 09 12:23
    Gửi vào: #10
Ông Trùm Thành viên thứ: 242878 Tiền mặt: 98917050
Group Icon Tham gia: 1-March 09 Được cám ơn: 83
Nhóm: Members Bài viết: 1113 No Yahoo Messenger
Chương 9 – Tuyết vũ Phượng tường1

Hôm ấy họ vượt qua một cái lạch trên sông Trường Giang, tiến vào địa phận Hồ Bắc. Văn Tĩnh nhận ra thuyền nhà binh cắm đầy mặt sông, lại gặp rất nhiều nhân vật giang hồ cắp đao mang giáo. Y để tâm nghe ngóng mới biết sau khi Mông Ca chết, Hốt Tất Liệt đánh bại ấu đệ A Lí Bất Ca, đoạt lấy tước hãn Mông Cổ, đổi quốc hiệu là Đại Nguyên, đóng đô ở Bắc Kinh đã mấy năm rồi. Gần đây, theo kế sách của hàng tướng nhà Tống là Lưu Chỉnh, ông ta sai bỏ đại doanh ở Lục Bàn sơn, di chuyển quân đội từ Ba Thục đến Tương Phàn2. Quân Tống đóng ở Tương Phàn liên tiếp cấp báo về triều, sau đấy, không chỉ triều đình rầm rộ tăng binh mà Môn chủ Thần Ưng môn là Thiên nhãn Điêu vương Vân Vạn Trình cũng phát thiếp võ lâm, hiệu triệu giang hồ lập “Quần Anh minh” chiêu tập nghĩa quân chống giặc.

Văn Tĩnh hiểu ra nguyên do của sự nhộn nhịp ấy, ngẫm nghĩ: “Thục đạo hiểm trở, thuận lợi về địa thế. Tương Phàn bằng phẳng rộng rãi, chính là chỗ tung hoành của thiết kỵ Mông Cổ. Lưu Chỉnh xuất thân thủy quân Đại Tống, tinh thông thủy chiến, hắn theo bên kia đã mười năm, Mông Cổ ngày nay nói riêng thủy sư thì chưa biết thế nào, song nếu họ kết hợp cả hai đường thủy bộ thì quân mình khó bề chống đỡ …” Lại nghĩ sắp đánh nhau to, sinh linh lầm than, Văn Tĩnh đâm ra buồn bã. Trong khi đó mẹ con Ngọc Linh chỉ náo nức những chuyện ồn ã, nằng nặc đòi đi xem Quần Anh minh bằng được.

Từ sau trận Hợp Châu, Văn Tĩnh đã phát ốm lên vì nợ nước thù nhà, chẳng hứng thú đâu mà bận tâm đến cái đại hội ấy, huống hồ ở đó đông người lắm tai mắt, ngộ nhỡ gặp phải người quen đất Thục thì rắc rối to, nên thoạt tiên y kiên quyết phản đối, song chống đỡ được hai hôm, không chịu nổi vợ con eo sèo, cuối cùng y đành đồng ý đi xem, nhưng định rõ quy tắc: chỉ được quan sát, không được sinh sự. Hai mẹ con hớn hở hứa hẹn, nhưng Lương Tiêu bản tính khó sửa, chưa được một ngày đã xô xát với hai đạo sĩ.

Lúc này thấy con trai gây vạ còn chối bay chối biến, Văn Tĩnh rất bực, song nhận ra hai đạo sĩ cũng chẳng phải hạng tử tế gì, bị Lương Tiêu chọc ghẹo kể như ác giả ác báo mà thôi, nên y không nói không rằng, chỉ lãnh đạm quan sát.

Đạo sĩ mặt trắng hơi lúng túng, liếc nhìn vợ chồng Văn Tĩnh, hừ mũi:

- Được lắm! Các người dám vô lễ với đạo gia, vậy hãy báo tên hiệu, đạo gia sẽ ghi nợ.

Văn Tĩnh còn cân nhắc xem nên trả lời thế nào, Lương Tiêu đã cười đáp:

- Cha ta tên Triển Thích, mẹ ta tên Cát Nữu, còn tên ta là Bích Tử.

Văn Tĩnh ngạc nhiên nghĩ bụng, thằng nhóc lộn xộn quá, nói cái quái gì thế không biết? Đạo sĩ mặt trắng lặp lại:

- Triển Thích, Cát Nữu, Tị Tử3, hừm, cái tên này thì hơi kỳ cục …

Lương Tiêu cười nói:

- Có gì đâu mà kỳ cục, tại ngươi là một lão mũi trâu đó thôi.

Mọi người ngẩn ra, rồi phá lên cười khoái trá. Đạo sĩ mặt đen mắc lỡm, trừng mắt quát:

- Đồ lộn giống…

Ngọc Linh từ từ đứng dậy, hỏi:

- Tên mũi trâu, ngươi chửi ai đấy?

Dung mạo nàng cực đẹp, nhưng ánh mắt thì sắc lạnh vô cùng, đạo sĩ mặt trắng cảm thấy bất ổn, cung tay nói lớn:

- Non nước còn đây, ngày sau tất có dịp tái ngộ ba vị. – nói đoạn, hắn kéo sư đệ chạy vù ra cửa.

Văn Tĩnh quay lại giải huyệt cho La Tùng, nhìn sang Hàn Tranh đã cứng miệng, hôn mê bất tỉnh, y bất giác cau mày:

- Vị nhân huynh này bị thương nặng đấy!

La Tùng hậm hực:

- Tên đạo sĩ khốn kiếp xuất cước thực tàn độc… - cùng với lời nói, khuôn mặt y đổi ra ảm đạm vô cùng.

Văn Tĩnh chìa tay về phía Ngọc Linh. Phu phụ tâm đầu ý hợp, Ngọc Linh hiểu ngay, lườm chồng bảo:

- Lại muốn làm người tốt nữa kia… - miệng thì lầu bầu vậy, song nàng vẫn lấy ra một bình ngọc mỡ dê, đổ hai viên Huyết Ngọc Hoàn Dương đan vào tay Văn Tĩnh.

Văn Tĩnh ấn huyệt Đản trung của Hàn Tranh, đẩy Hạo nhiên chính khí sang. Họng Hàn Tranh phát ra tiếng lục khục, rồi y kêu “A!”, hàm mềm đi, Văn Tĩnh tống một viên đan dược vào, lại dùng nội lực đánh tan thuốc. Chừng thời gian cạn một tuần trà, sắc mặt Hàn Tranh hồng lên, gã từ từ mở mắt.

La Tùng mừng rỡ vô kể, đang định tạ ơn, chợt thấy hai bóng người lướt vào quán. Người đi đầu cất tiếng gọi:

- Hàn lão đệ!

Hàn Tranh vừa hân hoan vừa ngạc nhiên, bất chấp thương tích gắng gượng nhổm dậy đáp:

- Cận Phi huynh! – rồi nhìn ra mé sau Cận Phi, y càng hớn hở, - Vân công tử cũng đến ư?

Cận Phi tuổi ước ba mươi, mặt chữ điền, vai rộng tay dài, khí phách hùng dũng. Vị tiểu hậu chủ sau lưng y xem ra chưa đến mười lăm, dung mạo anh tuấn, nghe Hàn Tranh gọi, khuôn mặt trắng trẻo hơi đỏ lên, cậu thẹn thùng đáp:

- Hàn đại ca, lâu quá rồi không gặp!

Cấn Phi nhìn sắc mặt nhợt nhạt của Hàn Tranh, ngạc nhiên hỏi:

- Hàn lão đệ, ai làm đệ bị thương vậy?

Hàn Tranh nhớ lại chuyện lúc trước, vừa thẹn vừa căm, đập chân nói:

- Con mẹ nó, thằng mọi mũi trâu chết băm chết vằm!

Gã vừa bị thương bất tỉnh, giờ lại chửi người ta đâu ra đấy, làn hơi sung mãn, chính gã chưa cảm thấy lạ, nhưng La Tùng thì hết sức kinh ngạc, liếc Văn Tĩnh tự nhủ:

- Đan dược của người này thật thần kỳ.

Cận Phi nhướng đôi mày rậm:

- Thằng mọi mũi trâu? Ý Hàn đệ nói đến một đạo sĩ mặt đen?

Hàn Tranh kinh ngạc:

- Sao kia? Cận Phi huynh cũng chạm mặt tên đó rồi?

Cận Phi lắc đầu:

- Tôi đang vâng mệnh sư phụ tìm bắt hắn. Đạo sĩ mặt đen ấy đi lẫn với vài đứa tùng đảng khác, nhưng được cái dễ nhận diện. Trên đường lên bắc, hắn đã đánh bị thương nhiều đồng đạo tới phó hội. Sư phụ sai tôi dẫn các sư đệ tỏa đi khắp nơi chặn bắt, nhất định phải tóm được chúng. – y nhìn sang La Tùng, - Vị này là ai?

Hàn Tranh cười:

- Đây là La Tùng huynh.

Cận Phi hơi đổi sắc mặt, vòng tay nói:

- Thì ra là La Đoạn thạch. Cửu ngưỡng! Cửu ngưỡng!

La Tùng đáp lễ:

- Không dám, không dám! Uy danh Cận huynh như sấm động bên tai.

Cận Phi nghiêm chỉnh đáp:

- Cận Phi thô lậu, chút danh phận hèn mọn trên giang hồ nào đáng kể chi! La huynh đã từng tham gia chiến dịch Hợp Châu, anh dũng không tiếc thân, giết giặc như chẻ tre mới thực sự đáng nể. Dạo ấy thầy tôi có việc bận nên không kịp đến Hợp Châu, giờ đây mỗi lần nhắc tới La huynh đều luôn miệng khen ngợi!

Trận Hợp Châu là sự kiện tâm đắc nhất trong đời La Tùng, khổ nỗi lần đầu ra sa trường đã trúng một đao, sau đó nằm liệt giường cả tháng trời, khi ngồi dậy đi lại được thì chiến dịch cũng kết thúc rồi, làm gì đến mức anh dũng không tiếc thân, giết giặc như chẻ tre, nay nghe Cận Phi ca tụng y vừa sướng vừa ngượng, lúng túng bảo:

- Thực hổ thẹn, La mỗ ngu dốt chậm chạp, không đáng nhận lãnh lời khen vàng ngọc của Vân Điêu vương, – đang mải chuyện thì thoáng trông thấy cả nhà Văn Tĩnh dợm bước ra cửa, y gọi giật giọng. – Xin đừng đi!

Vừa nghe kể La Tùng đã từng tham chiến ở Hợp Châu, Văn Tĩnh đã bở vía, vội vội vàng vàng dắt vợ con bỏ đi. Lúc nghe La Tùng gọi, y càng rảo chân cho nhanh, nào ngờ mới được mấy bước thì một bóng người bỗng đâu xẹt tới trước mặt. Thiếu niên họ Vân chắn ngang đường.

- Bảo các hạ dừng lại, không nghe thấy hả? – cậu ta khum các ngón trái thành trảo, chộp vào vai Văn Tĩnh.

Thế trảo hung dữ quá, Văn Tĩnh không kịp tránh, lập tức rùn vai xuống. Tay áo y phồng lên, phất qua ngực thiếu niên. Cảm nhận được luồng kình phong lướt sát người, đè trĩu trên ngực, thiếu niên thét to:

- Được! – rồi xoay chân đáp sang bên cạnh Văn Tĩnh, thò trảo chộp ngược lại. Văn Tĩnh quan sát thân pháp cậu bé, ồ lên kinh ngạc, đoạn y phẩy tay áo rộng ra sau, mượn trảo kình trôi lên phía trước. Thiếu niên quát:

- Muốn chạy ư? – cậu ta dịch trái ba bước, dịch phải ba bước, bám sát Văn Tĩnh như bóng theo hình, các ngón tay khum khum như móc câu, nhăm nhăm đâm vào huyệt Thận du của Văn Tĩnh.

Huyệt Thận du là yếu huyệt trên cơ thể người, là nơi dồn tụ tinh khí tiên thiên. Thiếu niên phát trảo rất kín, dùng toàn chiêu số có thể khiến người ta tuyệt hậu. Văn Tĩnh hết sức bất bình: “Kẻ hậu sinh này trông thì yếu ớt mà xuất thủ quá tàn độc!” Y lập tức trở mình, thi triển công phu Thiên toàn địa chuyển. Thiếu niên chụp hụt, lại bị đối phương kéo bật lên phía trước, chưa kịp đứng vững bỗng thấy cổ tay căng mạnh, thì ra đã bị Văn Tĩnh nắm lấy. Thiếu niên kinh hãi, tay trái vận kình giật về, trảo phải xoay tròn, mổ vào huyệt Kỳ môn trước ngực Văn Tĩnh.

Cậu bé xuất thủ quá độc ác. Văn Tĩnh tức giận vô cùng, y không lắc mình tránh nữa mà vung chưởng cự lại. Chưởng đôi bên giao nhau, thiếu niên nhận thấy nội lực đối phương cuồn cuộn dồn sang như thác đổ, chợt hự lên một tiếng, giật lui ba bước, khí huyết trào ngược trong ngực, mặt đỏ bầm tựa trát máu.

Mãi mới tìm được một lúc trận đấu chững lại, La Tùng vội chen vào giữa hai người nói to:

- Xin các vị dừng tay!

Văn Tĩnh nhìn cậu bé, cau mày hỏi:

- Ai dạy ngươi Tam tam bộ vậy?

Thiếu niên họ Vân nghe người ta gọi đúng công phu của mình thì rất ngạc nhiên:

- Phượng Tường tiên sinh!

Văn Tĩnh gật gật đầu, xoay mình bỏ đi. Cậu bé liền chạy ào lên chặn đường:

- Đi đâu? – rồi giơ tay cản. Hai người xô vào nhau, không rõ Văn Tĩnh dùng thủ pháp gì, chỉ thấy thiếu niên nọ lộn nhào trở lại, mặt đỏ lựng như uống rượu, đứng loạng choạng không vững. Cận Phi lao lên đỡ, vừa chạm vào người cậu bé đã thấy lực đạo ùn ùn đổ sang, cũng may hạ bàn của y khá chắc nên không ngã ra đất, y hãi hùng ngẩng đầu nhìn. Văn Tĩnh đã dắt vợ bế con đi xa rồi, La Tùng giậm chân kêu khổ:

- Vân công tử, sao cậu lỗ mãng như vậy?

Thiếu niên họ Vân ngây người:

- Hắn ta không phải là đồng bọn của đạo sĩ mặt đen ư?

La Tùng nhìn Hàn Tranh. Hàn Tranh đỏ mặt, ho khan đáp:

- Làm gì có chuyện ấy! Vân công tử hiểu lầm rồi, ông ấy là ân nhân của Hàn mỗ!

Thiếu niên họ Vân kinh ngạc:

- Ân nhân ư? Thế… thế là thế nào vậy?

Hàn Tranh thở dài, kể vắn tắt đầu đuôi câu chuyện. Cận Phi nghe xong buồn phiền vô cùng, trừng mắt trách thiếu niên:

- Vân Thù, sao em không hỏi cho rõ ràng trắng đen mà đã xuất thủ bừa bãi?

Vân Thù đỏ mặt, đỏ đến tận mang tai, lúng búng đáp:

- Em, em…

Cận Phi nói:

- Em em cái gì, đuổi theo mau! Nhất định phải tạ lỗi với người ta.

Vân Thù vâng dạ luôn miệng. Đúng lúc ấy, ngoài cửa bỗng có một nhà nho già lao vù vào, toàn thân ướt đẫm, mặt trắng nhợt, kêu la liên hồi:

- Có ma, có ma!

Chủ quán tức giận:

- Lão Diệp, lão lên cơn gì thế? Có ma! Có ma! Có con ma cái mẹ lão ấy.

Nhà nho ngẩn ra, bỗng khóc ồ ồ:

- Đúng là đã gặp ma mà, ghê lắm! Cho tôi một bát rượu đi, lạnh quá, lạnh quá!

Chủ quán xua tay gắt:

- Cút cút! Uống mà lười trả, ai dây vào lão cũng xúi quẩy hết.

Vân Thù sắp ra khỏi cửa, chợt cau mày quay lại, móc một đĩnh bạc ném cho chủ quán, cười nhạt:

- Miếng bạc này có đủ mua một bát rượu không?

Chủ quán tươi mặt, giơ tay đón lấy, luôn miệng nói:

- Quá đủ, quá đủ ạ!

Vân Thù nói:

- Đủ thì tốt! Lấy cho tiên sinh đây hai bát rượu, chỗ thừa thì mua giúp ông ấy một bộ quần áo sạch sẽ. – nói rồi cậu quay mình chực đi, ai dè nhà nho già nắm lại, trợn mắt bảo:

- Tôi… tôi gặp ma thật mà, cháu tin không?

Vân Thù vốn tính cả thẹn, thấy ông già có vẻ điên điên, cậu đỏ mặt, không nói được gì. Mấy tay phục vụ trong quán tiến đến gần, lôi nhà nho đi, cúi mình cười bảo:

- Vợ ông ấy bỏ theo người ta nên ông ấy cứ dở điên dở dại, xin công tử đừng để bụng.

Vân Thù nhìn nhà nho già, khẽ thở dài, quay mình bước ra cửa. Cận Phi, Hàn Tranh và La Tùng đương đứng chờ bên ngoài. Mỗi người một ngựa, phi suốt một thôi đường mà chẳng thấy bóng dáng nhà họ Lương đâu. Cận Phi thất vọng dừng ngựa hỏi:

- Vân Thù, khi đi người đàn ông ấy đã nói gì vậy?

Vân Thù đáp:

- Ông ta hỏi về thân pháp của em.

Cận Phi cau mày nói:

- Ờ nhỉ, thân pháp em dùng lúc đó không giống võ công của Thần Ưng môn. – y quắc mắt, vẻ nghiêm khắc.

Vân Thù nóng bừng mặt, cúi đầu:

- Đó… đó là võ công của Phượng Tường tiên sinh!

Cận Phi sắc mắc:

- Phượng Tường tiên sinh là ai?

Vân Thù lưỡng lự:

- Phải bắt đầu kể từ ngày ba mươi tháng chạp năm ngoái. Hôm ấy trời đầy tuyết, em và Phùng Tú tài, Chu Tú tài lội tuyết đến Huệ sơn…

Cận Phi sầm mặt, hừ mũi:

- Lại Phùng Tú tài, Chu Tú tài! Hai tên hủ nho văn dốt võ dát, chỉ giỏi kêu rên bất mãn, ngâm ngợi thơ thẩn thối tha, em cứ cặp kè với những quân khốn kiếp ấy thì có tiền đồ gì được hả?... Mà thôi, em kể tiếp đi.

Vân Thù ngượng ngùng đáp:

- Vâng… Hôm ấy trời rét cắt ruột, mặt đất đông cứng, tuyết rơi tựa lông ngỗng, vỡ vụn dưới gót chân, chúng em đến khu suối trong Huệ sơn, ở đấy mặt nước đã đóng băng cả rồi. Phùng Tú tài nổi hứng nói muốn khoét một lỗ lấy nước nấu trà. Vì vậy em tuốt kiếm đục băng để dẫn nước. Chu Tú tài nhìn suối tuôn ào ào, sực nghĩ ra điều gì, bỗng ngâm rằng: “Tuyền, tuyền, tuyền4!” vốn định tức cảnh làm một bài thơ, ai ngờ vừa ngâm xong câu ấy đã đứt mất tứ. Em và Phùng Tú tài đều nghĩ, ba chữ “tuyền” nghe thì bình dị chứ thực chất khí vận rất dào dạt, không phải cứ nhét bừa câu nào vào cũng phối được. Chúng em đương buồn phiền, thình lình có người sang sảng đọc nối: “Tuyền, tuyền, tuyền, Bính xuất cá cá trân châu viên, Ngọc phủ phách xuất ngoan thạch tủy, Kim câu đáp xuất lão long diên5!”

La Tùng tuy chẳng phải dân tinh thông bút mực, nhưng nghe xong cũng phải vỗ đùi tán thưởng:

- Thơ hay!

Vân Thù được lời như cởi tấm lòng, bèn mỉm cười với y. Cận Phi hỏi:

- Người đọc thơ chắc là Phượng Tường tiên sinh chứ gì?

Vân Thù gật đầu:

- Sư huynh đoán đúng lắm, chính là Phượng Tường tiên sinh! Chúng em nghe thơ là phục ngay, bèn hỏi tên hiệu, mời ông lại ngồi cùng. Phượng Tường tiên sinh cử chỉ đường hoàng, ăn uống chẳng hề khách sáo, cao đàm khoát luận khiến ai nấy ngưỡng mộ. Cứ thế, mọi người nhóm lửa trên đất tuyết, uống trà bình thơ, ôi, thời gian như tên bắn, thoáng chốc đã đến giờ ngọ, Chu Tú tài nhìn nắng đổ xuống tuyết, cao hứng vô cùng, lại ngâm: “Tuyết, tuyết, tuyết!” Dứt câu ấy cũng mất tứ.

Hàn Tranh phì cười:

- Đầu voi đuôi chuột, đúng là một tên vứt đi.

Vân Thù sầm mặt, lạnh lùng bảo:

- Hàn đại ca, anh mắng tôi không sao, nhưng anh mà chửi bạn bè tôi, Vân Thù này sẽ tính sổ đến nơi đến chốn.

Hàn Tranh ngớ người, nín cười bảo:

- Vân công tử chớ trách, Hàn mỗ có tiếng ruột để ngoài da, cậu cứ coi như mồm tôi mọc ngược, nói chuyện thối như đánh rắm ấy!

Lời lẽ y thô tục, song lại thuận tai Cận Phi và La Tùng, cả hai phá lên cười ha hả.

Vân Thù nghe Hàn Tranh tự trách, cảm thấy bất an, vội xoa dịu:

- Hàn đại ca đừng nói vậy kẻo tôi đây hổ thẹn.

Hàn Tranh và La Tùng nhìn nhau, mắt đều ánh lên vẻ giễu cợt, cùng nghĩ:

- Cái cậu Vân Thù này xuất thân thế gia võ lâm, sao lại ưa thích văn vẻ như vậy?

Vân Thù kể tiếp:

- Nghe Chu Tú tài đọc ba chữ Tuyết, chúng tôi đều cảm thấy rất đột ngột, không họa theo được, đành ngong ngóng nhìn sang Phượng Tường tiên sinh. Tiên sinh mỉm cười, dõng dạc đọc: “Tuyết, tuyết, tuyết, Xứ xứ quang huy minh hiệu hạo, Hoàng Hà tỏa đông tuyệt tiêm lưu, Hách hách nhật quan tu bính liệt.”

La Tùng vỗ đùi đánh đét, khen ngợi:

- Khí phách làm sao!

Vân Thù mỉm cười:

- La huynh nói phải lắm, khí phách trong bài thơ này quả tình rất hiếm có.

Cận Phi xuất thân hàn vi, cô lậu quả văn, nghe vậy phát sốt phát rét, cau mày giục:

- Vân Thù! Em hãy nói vào ý chính, đừng lan man thơ thẩn nhăng cuội nữa!

Vân Thù cụt hứng:

- Vâng, về sau cũng chẳng còn gì nữa đâu, Phượng Tường tiên sinh ngâm thơ xong thì đứng dậy bỏ đi.

Cận Phi ngạc nhiên:

- Ối, ông ta bỏ đi như thế, làm sao dạy em võ công được?

Vân Thù cười đáp:

- Sư huynh đừng sốt ruột, em còn chưa kể hết! Thấy Phượng Tường tiên sinh mặc áo mỏng, sợ ông nhiễm lạnh sinh bệnh, em bèn cởi áo choàng điêu thử ra, thi triển khinh công đuổi theo, khoác lên vai cho ông.

Cận Phi cười khẩy:

- Hay nhỉ! Tấm áo lông điêu sư nương tự tay may mà em đem cho người ta dễ dàng thế? Hừ, chả trách lúc quay về em lại nói dối sư nương, bảo là qua sông trôi mất! Khéo trí trá thực!

Vân Thù xấu hổ lí nhí:

- Cha dạy phải biết cứu khốn phò nguy. Người ta chịu lạnh, mình đâu thể ngoảnh mặt làm ngơ?

Cận Phi cười nhạt:

- Em xem ông ta ăn mặc phong phanh nhưng vẫn đi lại đứng ngồi, ung dung nói cười trong gió tuyết, có người bình thường nào sánh được không?

Vân Thù toát mồ hôi, nuốt nước bọt đánh ực:

- Sư huynh nói phải, nhưng em bị khuất phục bởi phong thái của ông nên lúc ấy chẳng suy nghĩ sâu xa gì cả. Về nhà rồi, em còn mãi hồi tưởng cảnh tượng ban ngày đến nỗi đêm trằn trọc không sao ngủ được. Hôm sau đẩy cửa trông ra thấy tuyết vẫn mù mịt, lòng lại rạo rực, em bèn khoác áo vào rồi đi một mình đến Huệ sơn, chỉ mong gặp được Phượng Tường tiên sinh. Vừa tới nơi đã thấy tiên sinh đứng ngay trước núi, như thể đoán được rằng em sẽ trở lại. Trông thấy em, ông cười: “Ngươi đến đấy à? Ha, hôm qua ngươi mời ta thưởng trà, hôm nay ta mời ngươi uống rượu.” Nói rồi ông cầm một cái hồ lô bảo: “Ta đem chiếc áo da ngươi cho đổi lấy bầu rượu này, chúng ta đừng nên uống nhanh quá.” Ối sư huynh ơi, tấm áo choàng to tướng bằng lông điêu đáng giá nghìn vàng mà ông ấy đem đổi chác với một bầu rượu, thực khổ, chả biết cao thấp gì cả.

Cận Phi hừ mũi, mặt tối sầm.

Vân Thù hoang mang, lắp bắp kể tiếp:

- Thế là, em với ông ấy ngồi xuống. Hai bên cạn xong một chén, Phượng Tường tiên sinh than: “Tiếc thực, có rượu mà thiếu mồi, không nhâm nhi được hết cái ngon.” Ông nghĩ ngợi rồi móc ống tay áo ra một cái triện vàng đầu sư tử, cười bảo: “Đây là ấn quan của tri phủ Bình Giang Phàn Chương Khôi, tên cẩu quan họ Phàn đó chỉ ưa luồn cúi leo cao, tham ô biển thủ, đục khoét của dân, chật vật mãi mới mua được phẩm hàm tri phủ này. Vừa khéo hai hôm trước là dịp ngự sử đến tuần sát, ta bèn tiện tay nhấc luôn cái ấn của hắn. Theo hình luật Đại Tống, người nào để mất ấn quan, nặng thì xử trảm, nhẹ thì bãi chức. Bộ dạng tên cẩu quan ấy lúc này chắc là buồn cười lắm, ha ha, khoái thật khoái thật, cạn chén nào!” Nói rồi tiên sinh cụng với em một chung. Ông thuật chuyện rất dửng dưng, em nghe mà kinh ngạc, nghĩ bụng nha môn tri phủ tuy chẳng phải đầm rồng hang hổ song cũng không phải nơi có thể tùy ý vào ra, lại ngắm ông già ngồi trong màn tuyết, mình mặc tấm áo đơn đã rách thòi cả ruột, bất giác em sực hiểu, đó là một dị nhân giang hồ.

Hàn Tranh và La Tùng bật cười, Cận Phi thì hầm hầm. Vân Thù nín bặt, thấp thỏm liếc sư huynh, mặt như gấc chín.

Cận Phi mỉa mai:

- Em đã dám làm mà còn sợ người ta cười ư? Sau đó thì sao?

Vân Thù đành tiếp tục:

- Tiên sinh uống với em thêm chung nữa, rồi lấy ra một tập văn tự cầm cố, bảo rằng: “Ngưu Bách Vạn6 ở Vu Hồ vừa tham vừa ác, không chỉ đầu cơ tích trữ mà còn cho vay nặng lãi, lợi tức cực cao, khiến bao người khuynh gia bại sản, bán vợ đợ con. Sáu hôm trước, ta ôm sạch giấy nợ, khế ước ruộng đất và vàng bạc châu báu của hắn đi, châu báu thì phân phát cho dân chúng, còn văn tự ruộng đất này…” Tiên sinh vừa nói vừa vò trong tay, tập giấy liền nát vụn, ông nhếch mép: “Từ giờ trở đi, gia tài của Ngưu Bách Vạn đã mất đến chín mươi chín phần trăm, hắn yêu sự sản như mạng sống, ắt hẳn tan nát ruột gan, muốn chết cho rồi. Ha ha, cái tên Ngưu Bách Vạn lòng lang dạ sói này! Chúng ta lại cạn một chén nào.” Tiên sinh nói xong, bèn uống với em một chén. Chứng kiến nội lực của ông lúc nghiến tay, em càng cảm thấy kinh lạ. Cha mình bản lĩnh rất cao, tuy cũng có thể làm như vậy, nhưng chưa chắc đã thong dong tiêu sái bằng.

Cận Phi trầm ngâm:

- Hai chuyện em kể, ta đều có nghe đồn. Cái ông Phượng Tường ấy, tuy nói năng hành xử theo chiều hướng nghĩa hiệp, song cách thực hiện thì quanh co ngóc ngách, không được thẳng thắn.

Hàn Tranh tiếp lời:

- Đúng đấy! Tham quan ác nhân thì chém luôn một đao cho chết mẹ nó đi, hà tất bày vẽ rắc rối?

Vân Thù phật ý:

- Phàn Chương Khôi chỉ thích bợ đỡ để tiến thân, Ngưu Bách Vạn yêu tiền bạc như tính mạng, đối với chúng thì mất quan tước của cải còn khổ sở hơn là bị giết ấy chứ.

La Tùng cười:

- Vân công tử nói đúng lắm. Hai đứa đó cả đời vun vén, một sớm một chiều hóa trắng tay, chúng sẽ khốn đốn biết chừng nào!

Vân Thù được y phụ họa, bật cười:

- La huynh thực rất hiểu lòng người.

Cận Phi lạnh lùng nói:

- La huynh rất hiểu lòng người, còn ta thì là đầu đất hả? Hừ, bắt vào chuyện chính đi!

Vân Tùng nhợt mặt, lập cập đáp:

- Vâng, vâng. Là thế này, Phượng Tường tiên sinh cứ kể xong một chuyện hành hiệp tâm đắc là lại cụng với em một ly, chẳng bao lâu rượu đã sạch bách. Sau đó ông đứng dậy, người nhuốm hơi men, chân bước liêu xiêu trên tuyết, vừa bước vừa nói cái lẽ tam tài, tiên thiên dịch số gì ấy, nghe rất sâu xa ảo diệu. Cũng may Chu Tú tài tinh thông dịch lý, ngày thường em theo học đã nắm được cả, nay biết Phượng Tường tiên sinh võ nghệ đầy mình, lại thấy bộ pháp của ông độc đáo quá nên em âm thầm theo dõi. Ông bước không nhanh cũng không chậm, như đi dạo trong vườn thôi, nhưng lạ là sự dịch chuyển ấy lại gây ra gió, khiến tuyết rơi xuống đều bị cuốn chùm, quay rất lâu phía trên đầu ông như một lá cờ tiết lớn màu trắng.

Ba người kia giật mình nhìn nhau, cùng nghĩ:

- Chỉ bước đi mà kéo theo gió xoáy khiến hoa tuyết ngưng tụ, thực chưa nghe đến thứ võ công như thế bao giờ. Mà chẳng rõ có phải thật không, hay thằng bé này hứng chí nói càn, khoa trương khoác lác? – Ai nấy cùng đăm chiêu, tỏ vẻ nghi hoặc.

Vân Thù vẫn kể:

- Phượng Tường tiên sinh di chuyển như vậy khoảng một canh giờ mới dừng chân, cười hỏi: “Ngươi nhìn rõ được mấy phần kiểu đi của ta?” Em cứ thực tình đáp: “Chưa được một phần mười.” Phượng Tường tiên sinh gật đầu: “Giỏi, giỏi lắm.” Ông trầm ngâm một lúc, lại nói: “Mấy năm nay, ta mải tìm hai người. Một người lẽ ra là vợ ta, nhưng nàng đã lìa xa, trốn tránh ta khắp mọi nơi. Một người nữa lẽ ra là đồ đệ ta, nhưng năm xưa vì một chút suy nghĩ sai lệch, vô duyên vô cớ mà bỏ qua nó, ôi, đáng tiếc.” Nói xong ông nhìn em bảo “Đã hụt một lần thì cũng đành vậy, nhưng để hụt lần thứ hai thì mới thực là đáng trách.”

Cận Phi cau rúm mày. La Tùng cười nói:

- Vân công tử, chúc mừng cậu! Đoan chắc Phượng Tường tiên sinh đã có ý thu nhận cậu làm học trò.

Vân Thù lúng túng:

- La huynh khách sáo quá. Tôi cũng nhận ra ý tiên sinh. Song nước có phép nước, nhà có luật nhà, võ lâm có quy củ của võ lâm, tôi chưa bẩm với cha, làm sao dám tự tiện bái sư? Vì vậy tôi lặng thinh. Tiên sinh áng chừng đọc được ý tứ của tôi, bèn đứng dậy cười bảo: “Thôi, còn chưa mất hẳn hi vọng, ta tiếp tục tìm kiếm tên đồ đệ ngày xưa vậy. Nếu vẫn không tìm thấy, rằm tháng tám này, ta sẽ sang dãy Bạch Sa ở Yên sơn.” Nói rồi ông phất hai tay, cười lớn bỏ đi.

Cận Phi thở phào, nói rằng:

- Sư đệ! Suy cho cùng em cũng đã làm một việc đúng. Khoan bàn em có tự tiện bái sư hay không, cứ nhắc đến võ công Thần Ưng môn nhà ta cái đã. Võ công Thần Ưng môn bác đại tinh thâm, anh em mình hiện chưa xong nhập môn thì đành vậy, chứ mai này luyện tập cao hơn, chắc đâu đã thua kém Phượng Tường tiên sinh. Huống hồ ông ta hành xử quái đản, không phải là quân tử đường hoàng, cứ tránh cho xa thì hơn.

Vân Thù ngoài miệng vâng dạ, trong bụng lại nghĩ thầm:

- Quân tử đường hoàng thế nào chẳng biết, nhưng nhất định không thú vị bằng Phượng Tường tiên sinh. - đang mải nghĩ, chợt nghe thấy Cận Phi nói:

- La huynh! Hàn lão đệ! Sắp đến giờ tụ hội rồi, mình không theo kịp nhà họ đâu. Đây cũng gần Bách Trượng Bình, chúng ta thong thả đi đi.

Sau một thoáng trầm ngâm, La Tùng nói:

- Cận lão đệ! Ta cứ băn khoăn mãi, không biết có nên nói ra hay không. Người đàn ông áo vải đó quả thực… quả thực rất giống một người!

Cận Phi tỏ vẻ chăm chú:

- Ai?

La Tùng kề tai y nói khẽ một cái tên. Cận Phi kinh ngạc buột mồm:

- Có thể nào? Chẳng phải ông ta đã ốm chết từ lâu rồi hay sao?

La Tùng lắc đầu:

- Theo ta được biết, vụ ốm chết chỉ là do quan phủ nói thác thế thôi. Chưa chừng ông ta còn sống đấy.

Cận Phi nhướng đôi mày rậm, cao giọng nói:

- Ngày nay triều cương thối nát, gian thần lộng hành, nếu người đó còn sống thì vì cớ gì không ra mặt?

La Tùng thở dài:

- Cận lão đệ! Đại anh hùng đại hào kiệt suy nghĩ có chỗ khác biệt, hạng phàm phu tục tử như hai ta làm sao hiểu được?

Cận Phi ngẫm nghĩ hồi lâu rồi bảo:

- La huynh nói phải. Việc đã quan trọng như thế, mình phải chia ra tìm họ để hỏi cho ngọn ngành. Nhưng chẳng may nhỡ giờ liên minh thì thầy tôi sẽ không vui đâu. Vì vậy các vị đừng đi xa quá, hễ nghe thấy hiệu lệnh thì phải nhanh chóng về Bách Trượng Bình nhé.

Dặn dò đâu đấy, bốn người chia hướng lùng tìm. Vân Thù theo hướng đông, ngại sẽ khó xử khi gặp Văn Tĩnh nên cố ý lỏng cương, ruổi ngựa đi dềnh dàng. Bỗng chốc nghe thấy phía xa có tiếng nhạc sáo u u vọng tới, lòng động hiếu kỳ, cậu nghĩ bụng: “Tiếng sáo sậy này ở đâu ra đây? Người thời Đường có thơ rằng:

Trước núi Hồi, cát dường tuyết phủ ,

Bên thành Thụ, trăng ngỡ sương sa .

Sáo lau đâu đó nghe văng vẳng ,

Đêm thâu lữ khách ngóng quê nhà7

Sáo bằng ống sậy là nhạc cụ vùng Tái Bắc8, nơi đây sao lại có âm thanh mạn ngoài thế này? Ừm, giai điệu nghe buồn nhớ, phải chăng người thổi sáo gặp nỗi phiền muộn nào?” Vân Thù ưa làm việc nghĩa hiệp, liền lần mò đi theo tiếng nhạc. Lát sau, đến gần một gò đất, cậu trông thấy một người áo đen ngồi trên đỉnh gò, lưng quay về phía mình, mặt quay về hướng nam.

Vân Thù xuống ngựa, cao giọng gọi:

- Tiên sinh thổi nghe thê thiết quá! Chắc ông gặp chuyện gì đau lòng phải không?

Tiếng sáo im bặt, người áo đen hừ mũi, lạnh lùng nói:

- Trời cao đất rộng, xưa nay vẫn là cái lò nung nấu thế nhân. Hai chữ đau lòng, trong đời người có ai thoát nổi? – Giọng nói đều đều, không chút âm sắc, nghe rất khó chịu.

Vân Thù trẻ người non dạ, chưa thấm thía nỗi khổ trần ai, không biết đối đáp ra sao trước những lời lẽ kỳ quái ấy. Chợt loáng thoáng đằng xa có tiếng tù và, cậu đổi sắc mặt, hấp tấp nói:

- Tiên sinh! Tôi bận chút việc, không thù tiếp được nữa. – đoạn quay đi, chạy mấy bước rồi bật cao, đáp xuống lưng ngựa.

Vân Thù chưa ngồi vững, một tiếng rít khẽ bỗng vang lên, nghe như tiếng mũi tên xé gió. Cậu bé còn đương thắc mắc thì lại thấy con ngựa mình cưỡi vụt hí lên thê thảm, ngã vật xuống. Cậu vội lộn khỏi mình ngựa, trụ vững rồi đưa mắt nhìn kỹ, trên cổ ngựa có một lỗ nhỏ xíu, máu đương òng ọc chảy ra. Vân Thù ngó quanh, ở nơi đây ngoài người áo đen thì không còn ai khác, cậu nổi giận:

- Tiên sinh, tại sao tự nhiên ông giết con ngựa của tôi?

Người áo đen lạnh lùng hừ một tiếng, chậm rãi đứng dậy. Vóc người ông ta không cao, nhưng đứng trên gò nên trông khí thế rất oai phong, đầu đội trời chân đạp đất.

Ông ta thoáng ngẫm nghĩ, giọng chợt trầm xuống, nửa hỏi nửa đáp:

- Thằng ranh, ngươi là đệ tử của Vân Vạn Trình hay là môn nhân của lão Cùng nho?

Vân Thù ngạc nhiên:

- Vân Vạn Trình là cha tôi. Còn lão Cùng nho là ai, tôi có quen đâu?

Người áo đen cười nhạt:

- Giả bộ ngơ ngác lừa gạt hả? Tư thế tung mình lên ngựa của ngươi là Xuyên Vân túng của Thần Ưng môn, nhưng mấy bước trước đó thì là gì?

Vân Thù sực hiểu:

- Ông muốn nói đến Phượng Tường tiên sinh phải không?

Người kia tức giận hừ mũi:

- Phượng phượng gà gà cái khỉ gì? Thằng oắt con nhà ngươi thực gian dối! – ông ta vụt dịch ra sau một bước, lúc trụ bộ thì đã ở dưới chân gò.

Thấy người ta giật lùi mà có thể bước xa đến mấy trượng như thế, Vân Thù đâm hoảng, chưa kịp định thần thì người đó đã đến ngay trước mặt, lật tay về sau tóm vào ngực cậu.

Vân Thù luống cuống vung chưởng chặt cánh tay người đó, chưởng vỗ trúng trảo, hung mãnh lạ thường, nhưng người áo đen không hề né tránh. Rìa chưởng chém tay như thể va vào thép nguội, Vân Thù vội vàng chuyển thế ưng trảo mổ xuống mạch môn đối phương, trảo lực cũng chứa vài phần hỏa hầu, sức phạt đứt tứ chi. Nào ngờ cổ tay người kia trơn như xoa mỡ, chuồi qua các đầu ngón tay Vân Thù, tốc độ không suy suyển, xỉa thẳng đến ngực cậu bé.

Vân Thù thi triển Tam tam bộ vội vã thoái lui, nhưng người kia cũng tiếp tục chạy lùi nhanh như gió. Bất kể cậu bé biến hóa ra sao, năm ngón tay của người áo đen vẫn đều đặn ép dần đến từng tấc, từng tấc một. Khi Vân Thù lùi tới bước thứ mười cũng là lúc bị trảo đối phương chụp vào ngực. Nguy cấp quá, cậu thét lên một tiếng thật to, tung chân phải đá lên thắt lưng người áo đen, thực không ngờ vừa đá là trúng liền. Cậu bé mừng rỡ, song lập tức nhận ra chỗ chạm chân đang mềm nhũn đi, như thể chìm lút vào một đống bông. Cậu còn chưa hiểu đầu cua tai nheo ra sao, người áo đen lại hừ khẽ, da thịt ông ta thình lình đàn hồi, lún chỗ này nảy chỗ kia, nhanh khôn tả. Vân Thù chỉ kịp nghe thấy một tiếng rắc, rồi cảm giác đau nhói chạy lan từ bẹn, chắc hẳn đùi phải đột ngột bật ngược nên đã bị chấn gãy rồi.

Cậu kêu lên thảng thốt, giật lui ra sau. Người áo đen nhoài tay theo, tóm lấy ngực áo cậu, bỗng dưng ngơ ngẩn, lẩm bẩm nói:

- Ngươi chỉ học được chút màu mè bên ngoài thế thôi hử? – Giọng nói thoáng vẻ bất ngờ, rồi ông ta vụt lăng tay, quẳng Vân Thù xuống đất, thét:

- Thế còn Tam tài Quy nguyên chưởng đâu?

Vân Thù ngã chúi xuống bùn, mặt mũi lấm bẩn, máu chảy ròng ròng, nghe vậy nhịn đau đáp:

- Tam tài Quy nguyên chưởng là cái gì? Tôi không biết.

Người kia cười nhạt:

- Thằng này bộ dạng gian giảo, cùng một hạng như lão Cùng nho kia. Hừ, ngươi nói Vân Vạn Trình là cha ngươi, phải không?

Thoạt tiên giọng ông ta rất kích động, nhưng nói được mấy câu lại khôi phục âm điệu lành lạnh đều đều, nghe không biết là vui hay giận. Thêm vào đó ông ta vẫn một mực quay lưng lại cậu bé, Vân Thù chưa nhìn rõ nhân dạng lần nào, buột miệng hỏi:

- Ông là ai? Có thù với cha tôi hay sao?

Người áo đen hừ mũi, bỗng phá lên cười ha hả. Vân Thù nghe giọng cười ồ ạt như nước triều, màng nhĩ chấn động, một luồng máu nóng phụt lên đỉnh đầu như muốn phá óc lao ra. Ngạt thở. Rồi tiếng cười lại thình lình tắt ngấm, người áo đen ngửa đầu nhìn trời, lạnh lùng nói:

- Ngươi hỏi ta là ai ư? Hà, lão phu lâu ngày không xuất thế, xem ra thiên hạ đã quên ta rồi! – Đoạn lại hừ mũi, cao giọng hỏi – Hôm nay Vân Vạn Trình tổ chức đại hội ở Bách Trượng Bình phải không?

Vân Thù nhấm nhẳn:

- Phải thì sao?

Người kia nói:

- Hay lắm! Cái lão Cùng nho dạy ngươi võ công chắc cũng đến Bách Trượng Bình đấy nhỉ?

Vân Thù sực hiểu, nghĩ bụng:

- Lão cứ một điều Cùng nho hai điều Cùng nho, lại hỏi bộ pháp của ta, phải chăng người lão đang tìm chính là Phượng Tường tiên sinh? Võ công lão cao cường như thế, không chắc tiên sinh thắng được. Làm người phải trọng chữ Nghĩa, Phượng Tường tiên sinh với ta tâm đầu ý hợp, Vân Thù dẫu chỉ còn một hơi thở, cũng quyết không làm những việc lỗi đạo bạn bè. Tên độc ác này càng ép ta khai nơi ở của tiên sinh, ta càng không thốt ra nửa chữ. – nghĩ vậy, cậu nói to – Võ công của ta đều do phụ thân dạy, không liên quan gì đến người khác, cũng chẳng có Cùng nho nào ở Bách Trượng Bình cả.

Người kia nổi giận, định bụng tra khảo, song tính tình cao ngạo, không muốn dùng phương pháp hạ lưu đó, thầm nghĩ: “Thằng ranh cứ lải nhải Phượng Tường tiên sinh, lại khăng khăng rằng ngoài Vân Vạn Trình ra không còn ai dạy công phu cho nó. Chỉ toàn điều dối trá, chẳng câu nào đáng tin. Hừ, ngươi bảo lão Cùng nho không ở Bách Trượng Bình, vậy sự thực chắc là ngược lại rồi. Nhưng mà, võ công của lão già ấy rất cao, xung quanh còn nanh vuốt của bao nhiêu tên người Tống nữa, nếu ta đường đột xông vào thì hung hiểm quá. Hừ, nhưng thế thì sao? Dẫu là đầm rồng hang hổ, lão phu cũng không coi vào đâu.” Nghĩ rồi cười khẩy: “Được, lão phu sẽ đi lật tung cái của khỉ Bách Trượng Bình ấy lên.”

Vân Thù tức ngực, tự nhủ nếu để liên lụy đến cha thì thực là bất hiếu, nhưng nếu nói ra nơi hạ lạc của Phượng Tường tiên sinh thì bất nghĩa rõ ràng. Cậu còn đương bối rối chưa quyết, bỗng một làn gió tanh cực kỳ khó ngửi xộc vào mũi, kế đó là cảm giác lạ lùng sởn gai ốc chạy lan xuống từ đỉnh đầu, đọng lại ở thắt lưng; cuối cùng là cơn lạnh rờn rợn bò lên dọc cột sống. Vân Thù cảm thấy mỗi tấc da đều run rẩy tê dại, nhưng khốn nỗi huyệt Đản trung đã bị khống chế, không làm sao quay đầu nhìn được, chỉ biết cơn gió tanh càng lúc càng nồng, rồi luồng khí nóng dày nặng thốc từng đợt vào tai. Cậu bé không nén được nỗi sợ hãi, lệ hoen đầy mi hòa với máu chảy ra từ mũi và miệng, rỏ xuống đất.

Hết chương 9



1 Tuyết múa phượng bay.

2 Tức Tương Dương.

3 Bích Tử và Tị Tử phát âm tiếng Hán từa tựa nhau, Bích là màu xanh ngọc. Tị là cái mũi. Đạo sĩ nghe nhầm.

4 Suối, suối, suối.

5 Bài thơ này trích trong Tây Hồ Du lãm chí. Tác giả là Quán Vân Thạch, người Tiền Đường. Truyện kể lúc uống rượu ông thường có hứng làm thơ. Một hôm, mấy nhân sĩ cùng ngoạn cảnh, uống rượu ngâm thơ, muốn lấy Tuyền (suối) đặt vận để làm một bài. Ai đó ngâm được mấy chữ Tuyền, tuyền, tuyền rồi tắc. Chợt có người chống gậy tới, nghe vậy ứng khẩu ngâm rằng: “Tuyền, tuyền, tuyền, Bính xuất cá cá trân châu viên, Ngọc phủ phách xuất ngoan thạch tủy, Kim câu đáp xuất lão long diên.” Mọi người nói: “Ngài chắc chắn là Quán công chứ không sai.” Quán Vân Thạch bèn đọc tiếp: “Nhiên nhiên nhiên.” (Tất nhiên rồi!). Sau đó cả bọn mời rượu, họ Quán uống say rồi đi. Tích này về sau được thuật lại trong Từ uyển tụy biên, do Phùng Kim Bá thời nhà Thanh soạn.

Dịch nghĩa tạm: Suối suối suối, Tuôn ra hạt nào hạt nấy như trân châu, Rìu ngọc bửa đá cứng, Câu vàng múc dãi rồng.

6 Ngày nay Ngưu Bách Vạn được dùng như một danh từ chỉ hạng đại gia, nhà giàu. Ở đây có lẽ chỉ riêng vào một cá nhân nào đó. Tôi sẽ kiểm chứng nếu còn các đoạn liên quan về sau.

7 Bài thơ Dạ thướng Thụ Hàng thành văn địch (Đêm lên núi Thụ Hàng nghe tiếng sáo) của Lý Ích đời Đường. Bản dịch thơ trên là của Phụng Hà.

Nguyên văn Hán Việt:

Hồi Nhạc phong tiền sa tự tuyết
Thụ Hàng thành ngoại nguyệt như sương
Bất tri hà xứ xuy lô địch
Nhất dạ chinh nhân tận vọng hương

Dịch nghĩa:

Cát ở trước ngọn Hồi Nhạc trông như tuyết
Ánh trăng ngoài thành Thụ Hàng như sương
Không biết ai thổi sáo sậy từ đâu
Làm cho lữ khách cả đêm nhớ nhà

8 Tái Bắc nằm ở phía bắc Trường Thành, gồm khu tự trị Nội Mông Cổ, khu tự trị người Hồi Ninh Hạ và tỉnh Cam Túc ngày nay.

Tài sản:


[Xem tất cả tài sản]
User is offlineProfile CardPM
Go to the top of the page
+Quote Post

3 Pages V  1 2 3 >
Reply to this topicStart new topic
Trắc nghiệm

 





Album hot nhất


Giới thiệu Games


Zanado - Sitemap - Bản rút gọn - Kho Game - Hot tags - Tofaco - Ongame mobi Time is now: 28th March 2017 - 03:05 PM
2, 3, 123, 5, 208, 8, 9, 10, 12, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 37, 38, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 243, 50, 251, 53, 54, 56, 57, 58, 192, 61, 62, 63, 64, 65, 229, 69, 70, 71, 246, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 101, 102, 103, 104, 105, 106, 107, 108, 213, 110, 111, 252, 114, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 122, 126, 124, 125, 136, 133, 134, 137, 144, 167, 150, 151, 155, 158, 164, 166, 179, 181, 180, 210, 182, 185, 184, 186, 187, 188, 189, 190, 191, 193, 49, 202, 197, 198, 247, 199, 200, 203, 204, 205, 206, 209, 211, 212, 220, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 227, 230, 231, 233, 235, 236, 238, 239, 240, 241, 242, 244, 256, 245, 248